Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018

Sáp nhập & Sát nhập.



Đọc sách báo thỉnh thoảng tôi thấy dùng từ "sáp nhập", hoặc "sát nhập", để chỉ hai cơ quan, hai sở (có thể nhiều hơn), hoặc hai tỉnh thành nhập với nhau làm một. Thử tra từ điển tiếng Việt hiện nay như Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên, thấy hai chữ có nghĩa như nhau (đồng nghĩa).

Nhưng trong những tự điển xưa như Đại Nam Quấc Âm tự vị (Paulus Huình Tịnh Của) thấy ghi:

- Sáp nhập: Nhập lại với nhau (nói về làng xóm).

Việt Nam tự điển (Hội Khai Trí Tiến Đức):

- Sáp 揷. Nhập vào với nhau : Hai làng sáp làm một.

- Nhập 入. Vào. Nghĩa rộng: Hợp lại : Nhập hai món tiền làm một. Nhập bọn.

Sáp nhập 揷入. Nói về đem đất chỗ này nhập vào chỗ khác.

Không có từ "sát nhập" với nghĩa tương đương như "sáp nhập" bên trên.

Hán Việt Tân tự điển của Nguyễn Quốc Hùng (Nhà sách Khai Trí - Saigon 1975):

- Sáp nhập 揷入 : Gom vào làm một. Ta vẫn quen đọc Sát nhập là vô nghĩa.

Như vậy "sáp nhập" 揷入 là từ Hán Việt, trong đó cả hai từ "sáp" 揷 và "nhập" 入 đều có nghĩa là "nhập vào, hợp lại với nhau" (từ song tiết đẳng lập). Từ "sáp nhập" thường dùng để nói về việc nhập lại làm một của các đơn vị hành chánh (như các cơ quan, ban ngành, các tỉnh, quận, huyện... nhập lại làm một), ở nước ta việc sáp nhập như thế thường xảy ra.

Trong từ "sát nhập", thì từ "nhập" 入 là từ Hán Việt, còn từ "sát" là từ Nôm. Nghĩa của từ "sát" là "kế cận, kề bên" (ngồi sát nhau, nhà ở sát nhau). Trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), ghi nhận từ "sáp nhập" và "sát nhập" là hai từ đồng nghĩa. Nhưng từ "sáp nhập" là từ gốc, còn từ "sát nhập" là do cách nói sai mà ra.

Cũng có một từ khác mà ta hay dùng trong khẩu ngữ, là từ "xáp" (xáp viết "x"). Chữ "xáp" thường được chỉ hành động "tiến lại gần, sát lại gần", như trong câu nói "đám học sinh xáp lại với nhau", "xáp lá cà". Cũng còn một từ khác được viết là "xán" hoặc "sán" (Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê chủ biên), với nghĩa "do bị thu hút mà đến ngay gần, đến sát bên", như trong khẩu ngữ "Hai đứa nó hễ gặp là xán lại với nhau", từ "xán" không những tỏ hành động "xáp lại", mà còn tỏ ý "quấn quít, thân thiện".

Bên trên là những từ gần âm, gần nghĩa hay đồng nghĩa, người nước ngoài học tiếng Việt mà gặp chắc thấy rối.

Thứ Ba, 20 tháng 2, 2018

Lì xì.


Phong bao lì xì. Ảnh Internet.

Đầu năm mới (âm lịch) người Việt có tục lì xì, đại khái là người lớn tuổi sau khi nhận được lời chúc của người khác, thì gởi cho người đó một số tiền tượng trưng đựng trong một phong bao nhỏ màu đỏ in đẹp đẽ, màu đỏ theo Á Đông là màu của may mắn, với những lời chúc tụng tốt đẹp trong năm mới cho cả năm được hanh thông, may mắn. "Người khác" ở đây có thể là trẻ nhỏ, cũng có thể là con cháu hoặc những người thân quen đã lớn.

Lì xì cũng không chỉ dành cho người lớn đối với người nhỏ tuổi hơn, mà còn dành cho người nhỏ (con cháu đối với những người lớn tuổi như ông bà, cha mẹ,,,).

Tục lì xì bắt nguồn từ người Hoa, họ lì xì vào đầu năm mới với những lời chúc, lì xì không phải chỉ dành cho trẻ em con cháu trong nhà, mà cho cả những người lớn chưa lập gia đình, ở đây không tính tới chuyện lì xì kiểu nhờ vả, làm ăn, trả ơn trả nghĩa với những số tiền lớn.

Thế từ lì xì là từ đâu và có nghĩa là gì? GS. Lê Ngọc Trụ viết trong quyển Tầm nguyên tự điển:

- Lì-xì, tiền tặng (giọng Quảng Đông lệi xi-ị). Tiếng Hán Việt là "lợi thị" 利 市 (tiền tặng có hàm ý hên).

Lợi thị 利 市 đọc theo giọng Bắc Kinh là "lì shì". Nếu vậy thì từ "lì xì" là từ đọc theo giọng Bắc Kinh.

Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2018

Phó.



Phó - Có nhiều chữ, "phó" ở đây chữ Nho 副 có nghĩa là thứ nhì, ở vào hàng thứ yếu, phụ, hàng giúp việc, chứ không phải là hàng thứ nhứt "năm bờ oăn", hay là hàng chính thức. Ngày xưa người ta gọi những người thợ làm một nghề nào đó là "phó", "bác phó", đấy chính là chữ "phó" 副 này. Chẳng hạn thợ may là "phó may", thợ mộc là "phó mộc", thợ xẻ gỗ tức "kéo cưa lừa xẻ" là "phó xẻ", thợ nề là "phó nề, làm cối đá là "phó cối", thợ rèn là "phó rèn", thợ hớt tóc là "phó cạo", làm nghề chụp ảnh là "phó nhòm" hay khôi hài hơn là "phó nháy"... Ngay cả người đứng đầu một nhóm thợ xưa gọi là thợ cả cũng gọi là "bác phó cả".

Đã lâu tôi đọc một bài báo đại khái nói tại xưa người ta coi khinh thợ thuyền nên mới dùng chữ "phó" là thứ yếu, không phải là chính để gọi. Chắc bởi thế nên mới có từ gọi vui là "phó thường dân", đã là thường dân là hạng chót nhứt trong xã hội rồi mà còn là "phó thường dân" nữa thì hết biết. Đọc vậy thì cứ đinh ninh vậy.

.

Phó rèn. Ảnh Internet.


Phó xẻ. Ảnh Internet.

Mới đây xem trong quyển Tầm nguyên tự điển (Lê Văn Hòe - Hanoi 1942), thấy viết về chữ "Phó" 副 như sau:

- Phó 副: Ta thường gọi tôn các người thợ thuyền là ông Phó, bác Phó, như Phó Mộc, Phó Xẻ, Phó Nề, Phó Ngõa v.v...

Gọi thế là người ta có ý suy tôn thuyền thợ coi như các tay thợ giỏi giúp việc viên đầu-mục thợ nhà Vua. Vì xưa Vua ta có đặt chữ Tượng-mục là đầu-mục coi thợ thuyền, dưới Tượng-mục có chức Phó-tượng-mục.

Theo như tác giả Lê Văn Hòe, té ra xưa gọi các bác thợ là "phó" là "gọi tôn", tức là coi trọng người thợ làm nghề chứ không phải coi khinh.

Ra thế.

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

Chữ nghĩa thú vị.



Trong quyển tự điển Annam Latin của Giám mục Jean-Louis Taberd, có một từ khá thú vị, được viết như sau:

- 曳 Dái, revereri, timere; testiculus.

- kính dái, vereri, metuere.

Những chữ tiếng Latin: "revereri" có nghĩa là "tôn kính". "timere" là "sợ hãi". "testiculus" là "tinh hoàn".

- Kính dái, vereri = lịch sự, metuere = sợ.

Ta thấy chữ 曳 "Dái" (chữ Nôm) được viết trong tự điển Annam Latin có ba nghĩa, hai nghĩa đầu là revereri = tôn kính, và timere = sợ hãi", và nghĩa thứ ba testiculus = tinh hoàn.

Trong mục từ "Dái" còn có tục ngữ "Quen dái dạ lạ dái áo", có nghĩa là "Quen thì tôn kính (sợ) nơi tấm lòng (dạ) của người đó, còn lạ thì tôn kính (sợ) nơi tấm áo".

Với chữ "dái" với nghĩa "tôn kính", "sợ hãi", thoạt tiên tôi nghĩ là do chữ "dái" này được ghi nhận theo phát âm của người Nam bộ V = D, lẽ ra phải là "vái"? Tuy nhiên khi xem mục từ "Vái" thì trong tự điển vẫn có chữ 拜 Vái:

- 拜 Vái, invocare (invocare = kêu gọi).

Khấn vái, vovere (vovere = nguyện).

Xem lại trong tất cả các tự điển xưa như tự điển Việt Bồ La (1651) của Đắc Lộ, Đại Nam Quấc âm tự vị (Saigon 1895) của Paulus Huình Tịnh Của, Việt Nam tự điển (Hanoi 1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức, Tự điển Việt Nam phổ thông (Saigon 1951) của Đào Văn Tập, cho đến Tự điển tiếng Việt (1997) Hoàng Phê chủ biên (chữ "dái" ghi "từ cũ"), đều có chữ "Dái" với những nghĩa như tự điển Annam Latin của Taberd.

Trong Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, và Tự điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên có thêm tục ngữ "Khôn cho người ta dái/ Dại cho người ta thương" (Khôn cho người kính (nể, sợ)/ Dại cho người thương).

Ngày trước chữ "Dái" với nghĩa là "kính, nể, sợ" được sử dụng... vô tư, bây giờ thì không còn dùng nữa, chắc vì nghe không "vereri" (lịch sự).










Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

Ngả - Ngã.




Xem trong tự điển Việt Bồ La (1651) của A. de Rhodes (bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính, NXB Khoa học Xã hội - 1991), thấy có nhiều cái hay về ngôn ngữ xưa - nay, chẳng hạn về từ "ngã ba, ngã tư" mà ta dùng bây giờ. Trong tự điển Việt Bồ La ghi nhận là "ngả" (dấu hỏi) chớ không phải "ngã". "Ngả ba đàng", "Ngả ba soũ" (ngả ba sông), phân biệt với chữ "ngã" (dấu ~) có nghĩa là "té, ngã", có cả từ "ngã nước" là "bệnh vì uống nước không trong lành, nước độc".

Chữ "ngả" và "ngã" trong tự điển Việt Bồ La.

Đến Đại Nam Quấc âm tự vị (1895-1896) của Paulus Huình Tịnh Của cũng ghi nhận là "ngả":

我 Ngả (chữ Nôm). Nhánh đàng đi, chỉ về phía nào, ngả nào.

- Ngả ba. Chỗ đường đi phân ra làm ba.

- Ngả tư. Chỗ đường đi phân ra làm bốn.

- Ngả cái. Ngả sông rạch rộng lớn.

- Ngả con. Ngả sông rạch hẹp.

- Ngả bát. Ngả sông rạch ở phía tay hữu cũng là tên rạch.

- Ngả cạy. Ngả sông rạch ở phía tay tả cũng là tên rạch.

Tự điển Tiếng Việt (1997) Hoàng Phê chủ biên: (chỉ lấy từ liên quan)

- ngả d. Đường đi theo một hướng nào đó, phân biệt với những đường đi theo hướng khác.

- ngã d. (dùng trước danh từ chỉ số). Chỗ có nhiều ngả đường, ngả sông tỏa đi các hướng khác nhau. Ngã năm. Ngã ba sông.

Coi bộ ngày xưa viết "ngả" hay hơn "ngã" bây giờ, có lẽ chữ "ngã" trong "ngã ba, ngã tư" được dùng sau này, là từ phái sinh từ chữ "ngả".

Khá lạ là trong Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (Hanoi 1931), cũng chỉ có từ "ngả" (ngả ba), với nghĩa là "chỗ đầu ba con đường giao với nhau", không có từ "ngã" với ý nghĩa "ngã ba, ngã tư" như hiện nay.

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

Học chữ Nho.



Sách Chữ Nho Tự Học của GS. Đào Mộng Nam.

Chữ của người Trung Hoa ngày xưa ông bà ta gọi là chữ "nho". Hàn nho có nghĩa là nhà nho nghèo, học trò nghèo, nho gia là để chỉ người đi học, người có học, nho nhã là cái dáng vẻ của người có học (chữ nho) thuở trước. Đạo nho là một học phái do Khổng Tử khai sáng, chữ nho là chữ thánh hiền.

Vào khoảng nửa sau của những năm 1960 lúc bắt đầu học trung đệ nhị cấp tôi đã mày mò làm quen với chữ nho. Thoạt đầu học chơi mấy buổi với giáo sư Đào Mộng Nam, hồi đó ông là giáo sư đại học, dạy ở đại học Văn khoa, Vạn Hạnh ở Saigon. Ông mở một lớp học miễn phí để phổ biến chữ nho, ông giảng giải về sự hình thành của chữ nho, hướng dẫn cho cách viết chữ, thế nào là nét ngang, thế nào là nét sổ (nét dọc), nét nào viết trước nét nào viết sau, rồi cứ thế theo mấy quyển sách Tự học chữ nho của ông mà học. Sách của ông dạy rất dễ hiểu, tôi đã học khoảng gần hai ngàn chữ trong mấy quyển sách của ông. Tới bây giờ tôi vẫn còn giữ được mấy quyển sách này của ông, tính ra cũng xấp xỉ 50 năm.

Đến đầu thập niên 1970 tôi vào quân đội rồi chuyển đến Tây nguyên. Xa nhà nhiều khi chẳng biết làm gì nên ghi tên học hàm thụ chữ nho, người ta gởi tài liệu đến tận KBC (Khu bưu chính) đơn vị, mua thêm sách học. Đời lính đây đó, nhưng thời gian rảnh lại khá nhiều, về phố thì quán xá cà phê, còn khi đi công tác thì mang vài quyển sách, tài liệu theo ba lô. Có những khi ở những nơi đèo heo hút gió cả tháng, như trong một làng Thượng ở Pleiku, Kontum, quán xá không có, ngắm mấy cô Thượng mãi cũng chán, đành phải mang sách ra học.

Chữ nho có một đặc điểm là học chữ nào biết chữ đó, học thì khó nhớ vì khá nhiều nét phức tạp, mà quên thì rất dễ vì ta không hay dùng nó. Chữ nho đơn giản nhất chỉ có một nét như chữ nhất (一), và phức tạp nhất có chữ lên đến khoảng 30 nét, rất nhiều chữ mười mấy hai mươi mấy nét, như chữ nghiêm (nghiêm trang) 嚴 (17 nét), chữ chúc (dặn bảo) 囑 (21 nét). Chữ nho khó nhớ mặt chữ vì có nhiều chữ viết na ná giống nhau, Hai chữ đơn giản là chữ nhật 日 (mặt trời) và chữ viết 曰 (nói) nhìn có thể lầm lẫn. Cho nên người ta nói "chữ tác 作 đánh chữ tộ 祚" là thế.

Chữ nho viết chữ nào đọc chữ nấy, nhưng một âm lại có nhiều chữ viết, rồi trong một chữ viết lại có nhiều nghĩa khác nhau, chữ đó khi đi với chữ này thì hiểu thế này, nhưng khi đi với chữ khác lại hiểu khác. Chẳng hạn đọc là "nha", có đến mười mấy chữ nha, nha 牙 là răng, cũng có nghĩa là ngà, nha 鴉 là con quạ, cũng để chỉ màu đen, nha 衙 là sở quan. Nha môn 衙門 là cửa quan, nhưng "liễu nha" 柳衙, cũng chữ nha 衙 trong nha môn, lại có nghĩa là hàng cây liễu... Trong chữ nho có rất nhiều thành ngữ, điển cố, điển tích. Có những câu tưởng dễ nhưng nếu không biết được điển tích của nó cũng chẳng thể hiểu được ý nghĩa, chẳng hạn như "Thủ chu đãi thố" 守株待兔, nôm na là "Ôm cây đợi thỏ". Tại sao lại ôm cây đợi thỏ? Ta thấy khó hiểu nguyên câu dù có hiểu được từng chữ, vì đó là một tích của người Hoa, mà trong sách của người Hoa cơ man những điển tích như thế.

Cho nên nếu có ai đó nói học chữ nho dễ ợt, năm bảy tháng, một năm là đọc được Thủy hử, Tam quốc, chắc người đó chỉ nói chơi hay nói... xạo.

Có tổng cộng bao nhiêu chữ nho? Trong quyển tự điển chữ nho là Khang Hi, soạn vào đời Khang Hi bên Tàu có 47.035 chữ, xấp xỉ năm mươi ngàn chữ. Trong đó có khoảng 4.000 chữ thông dụng. Giả sử một ngày ta học được 5 chữ, thì với 4.000 chữ thông dụng ta cũng phải mất khoảng 800 ngày học miệt mài, mà đấy là ta phải sử dụng chữ nho hàng ngày để không quên, chứ với kinh nghiệm thì học 5 chữ, chỉ vài ngày buông lơi là đã quên tuốt ba, bốn chữ, nhất là những chữ khó, nhiều nét.

Ngày xưa học trò chuyên cần học cũng phải mất cỡ mười năm mới có thể sử dụng được chữ nho để đọc sách thánh hiền, làm được thơ phú, để đi thi có khi còn khó hơn. Tôi học chơi vài năm, chữ nhớ chữ còn, thỉnh thoảng đi đường có thể đọc được tên ba cái bảng hiệu của người Hoa, đến đình chùa cũng ráng đọc được vài ba bức hoành phi, bao lam. Đọc từng chữ thì được, nhưng nhiều khi ghép lại cả câu thì không hiểu. Chữ nho là thứ chữ rất cô đọng, không thật rành rẽ không dễ gì hiểu được một câu, dù có khi chỉ là câu đơn giản.

Trên kệ sách của tôi bây giờ có mười mấy quyển tự điển chữ nho (Hán Việt, Việt Hán), nhưng chữ thì quên gần hết sạch rồi.














Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Bài và bản - Ca và hát.


Xưa nay ta thường nói "ca một bài vọng cổ" hay "hát một bản cải lương", thì các từ "ca", "hát", "bài", "bản" có ý nghĩa như nhau, nhưng đọc trong sách khảo cứu về âm nhạc dân tộc*, thấy Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê viết:

VÀI NHẬN XÉT VỀ BÀI "DẠ CỔ HOÀI LANG" MỘT HIỆN TƯỢNG TRONG CỔ NHẠC VIỆT NAM

Trước hết tôi xin mở ngoặc về hai chữ "bài" và "bản" chúng tôi đã dùng phía trên. Chúng tôi viết bài "Dạ cổ hoài lang" mà bản "Dạ bán chung thinh" vì lẽ ông Sáu Lầu, chẳng những đặt nhạc mà đặt lời ca cho bài "Dạ cổ hoài lang". Bài ca và bản nhạc. Bản "Dạ bán chung thinh" chỉ có nhạc mà không có lời. Mấy bài của ông Nguyễn Tri Khương sáng tác đều có nhạc lẫn lời, nên tôi tôi dùng chữ "bài".

Trong vọng cổ, cải lương, theo GS. TS Trần Văn Khê thì "bản" chỉ có nhạc mà không có lời, còn "bài" thì có cả nhạc lẫn lời.

GS. TS Trần Văn Khê viết tiếp:

Luôn dịp tôi xin các bạn độc giả lưu ý đến hai chữ "ca" và "hát".

"Ca" là tiếng Hán Việt, còn "hát" là tiếng Nôm. Những từ như "quốc ca", "thánh ca", "dân ca", "ca khúc", "ca trù" là những từ Hán Việt. "Hát" là tiếng Nôm. Những từ "hát bội", "hát tuồng", "hát chèo", "hát cải lương", "hát đúm", "hát ghẹo", "hát xoan" là tiếng Nôm. Chữ "ca", có thể dùng trong tiếng nói thông thường, như tôi "ca" một bài Vọng cổ, tôi "hát" một bài Quan họ. Thì hai chữ "ca" và "hát" có nghĩa hơi khác nhau một chút.

"Ca" dùng cho những bài ca có làn điệu nhất định, thường thì nhạc có trước lời ca, và lời ca phải đặt theo làn điệu. Như bài Hành vân, Tứ đại, có nét nhạc cố định, nên chúng ta nói Tôi "ca" bài Hành vân, bài Tứ đại, chớ không nói tôi "hát" bài Hành vân.

"Hát" dùng cho những bài trong đó nét nhạc không cố định mà tùy theo lời, như trong hát tuồng, hát bội, người ta dùng từ "hát khách", "hát Nam" vì các bài hát khách, hát Nam không có một nét nhạc cố định mà nét nhạc tùy theo thanh giọng của lời thơ, lời phú. Lời trong các bài Quan họ là thơ lục bát hay lục bát biến thể, lời trong mấy bài "hát nói" cũng được đặt trước rồi nét nhạc tùy theo lời thơ mà lên xuống bổng trầm.

Khi "ca" người ca ngồi yên một chỗ. Khi thêm một vài "bộ điệu" thì "ca tài tử" đã biến thành "ca ra bộ". Nếu ngồi yên mà ca người ta dùng chữ "ca tài tử". Mà khi lên sân khấu, có cử động nhiều, từ dùng là "hát cải lương".

Khi "ca" thì có đờn phụ họa, thường là loại ti trúc, đờn dây tơ, sáo trúc, chớ không có kèn thổi. Nhịp chỉ có phách, song lan (hay song loan), sanh, nhịp đều theo trường canh chớ không có tiếng trống, chiêng. Trong khi "hát" thì tiết tấu không đơn giản mà rất phức tạp, như nhịp phách hát Ả đào, nhịp hát Chèo so trống đé, mõ, thanh la v.v... phụ họa. Hát Bội, hát Tuồng thì có kèn thổi bao, trống chiến "đầu đường" hay "đồ đường" (tức là đồng la) đánh theo nhịp, theo những "chu kỳ", những "quận" rất phức tạp.

Thường thì chúng ta dùng các từ rất đúng, nhưng cũng có khi không để ý tưởng rằng, "bài" cũng như "bản", "ca" cũng như "hát", nên chúng tôi giải thích cho những bạn nào đặt câu hỏi tại sao khi tôi dùng chữ "bài", khi tôi dùng chữ "bản".

Đọc những ý kiến của một bậc thày về âm nhạc dân tộc trên đây, ta mới hay, tuy ngày xưa xã hội đã coi nghề ca hát, diễn tuồng tích là "xướng ca vô loại", nhưng mà để đạt được, hay hiểu được cái "vô loại" của "xướng ca" cũng toát mồ hôi và không phải là điều đơn giản.

Ảnh Internet.

Ghi chú:

* Sách Văn hóa với Âm nhạc dân tộc của GS. TS Trần Văn Khê, NXB Thanh Niên - 2000.

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

Đờn ca tài tử.

Một ban nhạc đờn ca Tài tử năm 1911 ở Nam bộ (ảnh của trang Wikipedia).

Đờn ca tài tử hay ca nhạc tài tử là một hình thức âm nhạc thính phòng, để nghe chứ không phải để xem, với một ban nhạc gọn nhẹ và một không gian thu hẹp. GS. Trần Văn Khê viết về đờn ca Tài tử như sau:

"Vào đầu thế kỷ XX, âm nhạc Tài tử miền Nam đã thành hình, nhờ vào các nhạc sỹ, nhạc quan của triều Nguyễn, theo phong trào Cần Vương vào Nam, đem theo truyền thống âm nhạc đất Thần Kinh, chuyển thành hơi miền Nam, có khi đi ngang qua các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi trước khi vào Nam, nên các bực thầy trong nghề thường nói gốc đờn Tài tử là đờn Huế hay đờn Quảng.

Chữ "Tài tử" có nghĩa là "người có tài" mà cũng có nghĩa là "không chuyên nghiệp". Mà không chuyên nghiệp không phải là tài nghệ không cao, không cần luyện tập. Những người nổi tiếng trong giới Tài tử là những bực thầy, bài bản đầy đủ, lại có những ngón đờn, những chữ nhấn độc đáo, tuyệt diệu. Nhưng muốn nghe tiếng đờn kỳ diệu đó, không phải có tiền mà được. Người đờn "Tài tử" chỉ gặp nhau trong những buổi hòa nhạc để thưởng thức tài nghệ chớ không phải đờn để kiếm tiền mưu sống".

Đọc thấy ý kiến của GS. Trần Văn Khê về đờn ca Tài tử, một bậc thày về âm nhạc dân tộc Việt Nam, rất xác đáng. Chữ "Tài tử" ở đây vừa có nghĩa là "người có tài", mà cũng vừa có nghĩa là "không chuyên nghiệp". Tài của đờn ca trong đờn ca Tài tử ai cũng biết, còn "không chuyên nghiệp" ở đây không phải là "không chuyên" về "ngón nghề" đờn ca, mà không chuyên về "kiếm tiền mưu sinh". Bước đầu của đờn ca Tài tử thuộc về những lưu dân từ miền Trung theo chúa Nguyễn vào đất phương Nam mấy trăm năm về trước, họ vì những lý do khác nhau mà phải rời bỏ quê nhà lưu lạc đến chỗ xa lạ, nơi rừng thiêng nước độc, nên những lúc rỗi rảnh dăm ba người tụ tập nhau lại trên một chiếc xuồng, dưới bóng của một tán cây, trên một bộ ngựa hay một chiếc chiếu nơi một góc hè, lấy âm nhạc (với cây đờn kìm, đờn cò...) làm chỗ gởi gắm nỗi niềm, tâm sự... Dần dần đờn ca tài tử phổ biến trong những đám tiệc, lễ hội, đi vào lòng quần chúng, từ bình dân đến quan chức, trí thức.

Mãi về sau này, đến khoảng đầu thế kỷ XX, ở Mỹ Tho mới có một ban nhạc đờn ca Tài tử do ông Nguyễn Tống Triều lập, ông Triều sử dụng đờn kìm, ông Bảy Vô đờn cò, ông Chín Quán đờn độc huyền, ông Mười Lý thổi tiêu, cô Hai Nhiễu đờn tranh, và cô Ba Đắc hát. Mỗi tối thứ bảy ban nhạc này trình diễn tại khách sạn Minh Tân gần ga xe lửa Mỹ Tho. Khách đến nghe ngày càng đông. Ông chủ rạp hát bóng Casino thấy khách đến xem đông quá, mới nghĩ đến việc đem ban nhạc này trình diễn cho khán giả xem ở rạp trước giờ chiếu phim như một phụ diễn (cái chính là chiếu phim, xưa gọi là hát bóng hoặc chớp bóng). Bắt đầu từ đó ca nhạc Tài tử bước lên sân khấu chuyên nghiệp là ở rạp hát bóng. Về sau ca nhạc Tài tử có dịp xuất ngoại (khoảng 1910) đi Pháp trình diễn trong dịp đấu xảo, và sau đó phát triển nơi sân khấu, nhà hàng ca nhạc trong nước, các nhạc công, ca sĩ sống được bằng nghề đờn ca Tài tử. Ông Tư Triều (Nguyễn Tống Triều ở Cái Thia), được xem là người đờn hay nhất.

Riêng về chữ "tài tử" ta thấy xưa nay có hai cách hiểu:

1/- Cách hiểu ngày xưa "tài tử" có nghĩa là "người có tài", như trong truyện Kiều của Nguyễn Du "Dập dìu tài tử giai nhân/ Ngựa xe như nước áo quần như nen" (câu 47-48), hay "Thực là tài tử giai nhân/ Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn" (câu 1457-1458). Trong từ điển truyện Kiều, Đào Duy Anh đã giảng nghĩa chữ "tài tử": chỉ người đàn ông có tài, đối với giai nhân. Trong Hán Việt tự điển, Đào Duy Anh cũng giải thích chữ "tài tử" 才 子: Người có tài (homme de talent).

Đại Nam Quấc âm tự vị (1895-1896) của Paulus Huình Tịnh Của viết: Tài tử. Kẻ có tài riêng; kẻ chuyên nghề cổ nhạc, nhạc công. Và từ "Bọn tài tử": Bọn chuyên nghề cổ nhạc.

Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức viết: Tài tử 才 子: 1. Người có tài. 2. Người chuyên nghề âm nhạc.

Tự điển Việt Nam Phổ thông của Đào Văn Tập (Sài Gòn- 1951): Tài tử: Người có tài. Chỉ người chuyên về một nghệ thuật nào, chỉ vì thích nghệ thuật đó, chứ không dùng tài để mưu sinh.

Ta thấy chữ "Tài tử" trong Tự điển Việt Nam của Đào Văn Tập (1951), có ý nghĩa như giải thích của GS. Trần Văn Khê.

2/- Cách hiểu về sau này ngoài việc hiểu như trên, Việt Nam Tân tự điển (Saigon-1952) của Thanh Nghị ghi nhận:

- Tài tử. 1. Người có tài. Homme de talent. 2. Nghệ sĩ: Tài tử chớp bóng. Artiste. Ngr. (nghĩa rộng). Thường để chỉ một người chơi một môn gì chỉ vì thích mà chơi chớ không phải làm nghề riêng: Nhà nghề, tài tử. Amateur.

Xem ra đến thời gian này (thập niên 1950), theo như Việt Nam tự điển của Thanh Nghị, thì từ "Tài tử" còn dùng đề chỉ "Nghệ sĩ: Tài tử chớp bóng. Artiste", và còn dùng để phân biệt giữa "nhà nghề, tài tử" (amateur).

Từ điển tiếng Việt (1997), Hoàng Phê chủ biên ghi rõ hơn:

- Tài tử:

I. (cũ) 1. Người đàn ông có tài. 2, Diễn viên sân khấu, xiếc hay điện ảnh có tài.

II. 1. Không phải chuyên nghiệp, chỉ do thích thú mà chơi hoặc trau dồi một môn thể thao văn nghệ nào đó. 2. (Phong cách lề lối làm việc) tùy hứng, tùy thích, không có sự chuyên tâm.

Ảnh của trang Wikipedia.

Tham khảo:

- Sách đã dẫn.

- Trần Văn Khê & Âm nhạc dân tộc, GS. TS Trần Văn Khê, NXB Trẻ-2000.
- Sân khấu cải lương Nam bộ, Đỗ Dũng, NXB Trẻ-2003.
- Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Nguyễn Lê Tuyên-Nguyễn Đức Hiệp, NXB Văn hóa - Văn nghệ TP. HCM & Cty Phương Nam-2013.

Thứ Hai, 2 tháng 10, 2017

Tổ nghề.

Nghệ sỹ Sài Gòn rước bàn thờ Tổ nhân ngày giỗ Tổ Sân khấu. Ảnh TTO.

Hôm qua xem trên báo mạng thấy nghệ sỹ sân khấu các nơi tổ chức dâng hương giỗ tổ vào ngày 11-12 tháng 8 âm lịch. Nghề nào cũng có các vị tổ của nghề đó, chẳng hạn như cao tăng Nguyễn Minh Không thời Lý được vinh danh là Lý Quốc Sư, là tổ của nghề đúc đồng. Tổ nghề chạm vàng bạc là ba anh em họ Trần (Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền). Công chúa Thiều Hoa con vua Hùng Vương thứ 6 là tổ của nghề lụa. Lê Công Hành là tổ của nghề thêu... Nhưng trong những bài báo viết về ngày giỗ tổ ngành sân khấu, chỉ nói đến "tổ" thôi chứ không thấy nói tổ của ngành sân khấu là ai?

Đại Việt sử ký toàn thư chép, từ thời nhà Lý (Ất Sửu năm thứ 16 - 1025) khi ấy có con hát là Đào thị (người con gái họ Đào), giỏi nghề hát, thường được thưởng, người bấy giờ hâm mộ tiếng của Đào Thị, cho nên phàm con hát đều được gọi là Đào nương. Ta thấy ngay từ thời nhà Lý cách nay khoảng 1000 năm, đã có con hát, tức là người biểu diễn nghệ thuật hát ở nước ta rồi, lúc ấy chắc chỉ hát trong cung đình.

Đời nhà Trần sách chép, trong cuộc chiến chống Nguyên Mông, quan quân nhà Trần bắt được Lý Nguyên Cát là người Nam Tống có tài ca hát. Lý Nguyên Cát soạn ra các vở tuồng và chỉ vẽ cho người Việt diễn tuồng. Có lẽ đây là loại hình diễn tuồng cổ của Trung Hoa.

Sang đến đời vua Lê Đại Hành trong cuộc chiến với người Chiêm Thành, cũng bắt được nhiều ca kỹ của họ mang về nước bắt họ múa hát vui chơi. Bây giờ ta còn thấy người Chiêm Thành (Chăm), có một nền nghệ thuật biểu diễn múa hát tôn giáo, dân gian rất đặc sắc. Chắc ta cũng học được nhiều cái hay trong nghệ thuật mùa hát của họ.

Nếu chỉ kể tổ của ngành sân khấu là người Việt, có lẽ Đào thị đời nhà Lý, tuy chỉ biết họ chứ không rõ tên là gì, xứng đáng được tôn vinh là tổ.

Như đã biết, trong nghệ thuật sân khấu, người ta phân ra nhiều ngành, nhiều bộ môn, chẳng hạn miền Bắc có Ca trù, hát Chèo, hát Xẩm... miền Nam có hát Cung đình, hát Bội, Cải lương... trong mỗi ngành sân khấu hoặc mỗi địa phương như thế thường lại có những tổ riêng. Chẳng hạn Đinh Dự là tổ của Ca trù được thờ ở nhiều địa phương miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Ninh Bình... Đào Thị Huệ là tổ ca trù ở Đào Đặng, Hưng Yên. Phạm Thị Trân là tổ nghề hát Chèo. Trần Quốc Đĩnh là tổ nghề hát Xẩm...

Về nghệ thuật nhạc Cung đình triều Nguyễn có thể kể Đào Duy Từ (1572-1634). Xuất thân là con nhà hát xướng ông không được đi thi dưới triều Lê, ông phẫn chí bỏ vào Đàng Trong được chúa Nguyễn Phúc Nguyên phong làm quan Nội tán với tước Lộc Khê Hầu. Ông cầm quân đánh giặc giỏi, đồng thời cũng rất giỏi về âm nhạc và tổ chứ âm nhạc. ông đã lập ra Hòa thanh thự trong triều đình gồm ba đội: đội nhất và đội ba chuyên về nhạc, đội nhì chuyên về ca múa. Mỗi đội có một suất đội và 120 người lính đều thuộc quyền trông coi của viên phó quản. Các đội này chuyên phục vụ trong những dịp nghi lễ, tế bái, yến tiệc của cung đình.

Về nghệ thuật hát Bội sân khấu tuồng có Đào Tấn (1845-1907), ông là nhà sáng tác, nhà đạo diễn lớn nhất trong lịch sử hát Bội Việt Nam. Cuộc đời của ông gắn liền với nghệ thuật hát Bội. Mặc dù việc làm quan rất bận rộn, nhưng ông vẫn vừa sáng tác, vừa vhi3nh lý những vở tuồng cổ, mở trường đào tạo diễn viên, tổ chức biểu diễn. Thời gian đổi về kinh là Thượng thư Bộ Công (1894) ông có xây Học Bộ Đình ở Huế để đào tạo diễn viên và biểu diễn hát Bội. Thời gian làm Tổng đốc Nam Ngãi, ông lại làm một nhà hát bên bờ sông Vĩnh Điện.

Cuối đời khi về hưu ở quê ông thành lập Học Bộ Đình ở Vĩnh Thạnh. Ông cũng viết được nhiều vở tuồng mới như Quan Công Quá Quan, Trầm Hương Các, Hộ Sinh Đàn, Hoàng Phi Hồ Quá Giới Bài Quan, và chỉnh lý các vở Tam Nữ Đồ Vương (lấy tên Khuê Các Anh Hùng), Sơn Hậu, Đào Phi Phụng.

Bộ môn nghệ thuật Cải lương trong miền Nam là sự kế thừa của ca nhạc tài tử, mà "ca ra bộ" là cầu nối giữa ca nhạc tài tử và sân khấu ca kịch Cải lương. Cuối thế kỷ XVIII bước sang đầu thế kỷ XIX, ca nhạc tài tử đã trở thành phong trào đờn ca tài tử khắp Nam bộ, với những nhạc sỹ, quan nhạc lúc bấy giờ như Nguyễn Đăng Đại, Phạm Đăng Đàn, Nguyễn Liên Phong, Nguyễn Tòng Bá, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Cư, Trần Quang Thọ (ông cố nội của GS. TS Trẩn Văn Khê)... Sau này có nhạc sỹ Lê Tài Khị (1870-1948), quê ở Bạc Liêu, giỏi nhạc lễ và nhạc tài tử, người xưa gọi là thầy Hai Khị, được giới tài tử miền Tây tôn là Hậu Tổ. Ông là người đầu tiên có công chấn chỉnh, hiệu đính và hệ thống hóa 20 bản Tổ của nhạc tài tử Nam bộ. Những bản này đã được sân khấu cải lương sử dụng rộng rãi.

Một trong những học trò của thày Hai Khị là nhạc sỹ Cao Văn Lầu (1892-1976), là người đã sáng tác bản "Dạ cổ hoài lang" bất hủ, là bản vọng cổ chủ lực của Cải lương lâu nay.


Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

Tiệm chạp phô.

Ảnh Internet.


Ảnh Internet.

Thuở nhỏ gia đình tôi ở khu vực Chợ Lớn, trong một xóm bình dân đủ mọi thành phần xã hội, ngoài cái niềm vui trẻ con chơi khăng, đánh đáo, đánh quay, đá dế... cùng lũ trẻ con hàng xóm, thì có lẽ đám trẻ chúng tôi có thêm niềm vui nho nhỏ nằm ở quán chạp phô của bà Ba Tàu trong xóm. Hễ thỉnh thoảng có ai ai cho một, hai cắc, năm cắc (một, hai hào, năm hào), là tụi nhóc thường hay phóng ngay đến quán chạp phô này mua vài cái bánh.

Như tôi đã viết ở Stt trước, với số tiền cắc, tiền hào như thế đám trẻ con mua được bịch bánh men nho nhỏ, vài cái bánh tai heo, vài bánh tay cùi, hay vài cái bánh chao, gói ô mai, mấy cục xí muội... chúng được đựng trong những cái keo bằng thủy tinh có nắp đậy gọi là cái "thẩu", thế là đã sướng tê người.

Thuở tôi còn nhỏ (cũng đã cả gần sáu chục năm nay), những tiệm bán lặt vặt trong xóm như thế được gọi là tiệm "chạp phô" cần gì cứ đến tiệm chạp phô của bà Ba là có đủ cả, vài loại bánh của trẻ con, nước mắm, nước tương, xì dầu, hũ chao... mà nước mắm, nước tương không phải chỉ bán chai, nhà lỡ hết người lớn sai trẻ con xách cái chén đến mua vài hào cũng được... cho đến mấy quả cà, vài lá dưa muối, củ cải mặn... bánh xà phòng giặt hiệu Cây đàn, bánh xà bông tắm Cô Ba, xị rượu đế Gò Đen... cây kim, sợi chỉ... Cái gì để xài trong nhà cũng có, Ôi thôi hầm bà lằng, đủ cả.

Như tôi đã viết, ngày xưa gọi là tiệm chạp phô, đại khái như bây giờ ta gọi là tiệm tạp hóa. Thực ra "chạp phô" (雜 貨) là âm của người Hoa Quảng Đông, âm Hán Việt là "tạp hóa", tiệm chạp phô hay tiệm tạp hóa là nơi bán đủ mọi thứ háng hóa tạp nhạp, linh tinh như tôi đã mô tả. Nhưng tiệm chạp phô trong xóm của người Hoa ngày xưa nó luộm thuộm lắm chứ không được như mấy tiệm tạp hóa bây giờ.

Hồi tụi tôi còn nhóc tì, cũng hay nói với nhau "mày ăn nói hoảng tiều". là ăn nói lung tung chẳng hiểu cái gì ra cái gì. Thực ra là "quảng tiều" chứ không phải "hoảng tiều", "quảng tiều" ở đây là người Quảng (Quảng Đông) và người Tiều (Triều Châu). Người Quảng Đông và Triều Châu tuy cùng là người Hoa, viết chữ giống nhau nhưng khi nói lại khác nhau, chẳng hạn người Quảng Đông nói "xực phàn" là ăn cơm, thì người Triều Châu nói là "chệch pừng".

Thỉnh thoảng tự nhiên nhớ lại vài ký ức tuổi thơ, cũng hay.

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017

Ông giẳng ông giăng,

Ảnh Internet.

Hôm nay là rằm tháng bảy, còn đúng một tháng nữa là tới Trung thu, đêm qua trời âm u nên không thấy trăng, tự nhiên nhớ tới mấy câu trong bài đồng dao "Ông giẳng ông giăng" của thời còn trẻ con:

Ông giẳng ông giăng
Xuống chơi với tôi
Có nồi cơm nếp
Có đệp bánh chưng
......

Thử vào mấy trang mạng để xem tiếp thì thấy bài đồng dao này có một số dị bản (điều bình thường nơi những bài đồng dao, dân ca), chẳng hạn như:

Ông giẳng ông giăng,
Xuống chơi với tôi,
Có bầu có bạn,
Có ván cơm xôi,
Có nồi cơm nếp,
Có nệp bánh chưng,

Thấy đại đa số các nơi viết là "có nệp bánh chưng", "nệp" chứ không phải "đệp" như tôi nhớ, cũng có nơi viết là "ệp", hoặc "nẹp". Thực sự chữ "đệp", "nệp", hoặc "ệp", "nẹp"... trong bài đồng dao xưa nay tôi cũng không hiểu nghĩa là gì, có lẽ nhớ nhầm, nhưng hay thắc mắc về chữ nghĩa nên tôi thử lật sách.

Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) không thấy chữ "nệp", có lẽ từ "nệp" là từ xưa của miền Bắc cho nên từ điển ngày nay không ghi nhận?

Thử giở Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, cũng không thấy từ "nệp" luôn. Lật sang chữ "đệp" xem sao, thấy ghi:

- Đệp. Một thứ đồ đựng đan bằng tre, bằng nứa: Bắt nhái bỏ đệp (T.ng).

Văn liệu.- Ông giẳng ông giăng. Xuống chơi nhà tôi. Có nồi cơm nếp. Có đệp bánh chưng (câu hát).

Trở lại Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê:

- đệp d. 1. Giỏ đan bằng tre nứa, có hom hoặc có miệng bằng vải như hình cái miệng túi, dùng để đựng cá, cóc, nhái. 2. Đồ đan bằng tre nứa, dùng để dựng các thức dự trữ. Có nồi cơm nếp, có đệp bánh chưng... (cd).

Vậy là đã rõ, câu đồng dao đúng phải là "Có đệp bánh chưng", "đệp" chứ không phải "nệp", hay "nẹp", "ệp". Bánh chưng được đựng trong cái "đệp" đan bằng tre, nứa.

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017




Bàng hoàng - Bàn hoàn.

Tôi đọc trong Kiều: câu 1717, 1718)

Bàng hoàng dở tỉnh dở say,
Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu.

Rồi đọc tiếp (câu 1759, 1760)

Nàng càng giọt ngọc như chan,
Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây.

Chữ "bàn hoàn" thấy lạ, không biết có phải là "bàng hoàng" không? Hay sách in sai?

Thử giở Từ điển truyện Kiều của cụ Đào Duy Anh:

- BÀN HOÀN: Vốn nghĩa là luẩn quẩn, quanh quần không đi được. Dùng theo nghĩa rộng: 1. Quấn quít với nhau. Vd. Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn (câu 2400). 2. Nghĩ quanh nghĩ quẩn. Vd. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn (câu 711); Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây (câu 1760).

- BÀNG HOÀNG: Tâm thần không định, rối loạn.

Giở thêm Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức:

- Bàn-hoàn 盤桓. Băn khoăn, quanh quẩn, quấn quít.

- Bàng-hoàng 彷徨. Nói khi tâm thần rối loạn.

Hán Việt Tân tự điển của Nguyễn Quốc Hùng (Nhà sách Khai Trí Saigon-1975):

- BÀN HOÀN: 盤桓 Vẻ rộng lớn - Quanh co, không tiến lên được - Bối rối bồi hồi, không nói ra được.

- BÀNG HOÀNG: 傍偟 Hoang mang rung động trong lòng.

Hán Việt từ điển trích dẫn:

盤桓 bàn hoàn:

1. Bồi hồi, lưu luyến. 2. Trù trừ, do dự. 3. Ở lại. 4. Vẻ rộng lớn.

傍偟 bàng hoàng. Xem bàng hoàng 彷徨 (viết theo chữ Hán hơi khác nhau chút đỉnh)

1. Bồi hồi, quẩn quanh. 2. Bay quanh, vòng quanh, bàn toàn. 3. Ưu du tự đắc. 4. Đứng ngồi không yên, tâm thần bất định. 5. Chần chừ không quyết. 6. Tên một loài trùng.

Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên):

- bàn hoàn đt (cũ). Nghĩ quanh quẩn không dứt.

- bàng hoàng t. Ở trong trạng thái tinh thần như choáng váng, sững sờ, tâm thần tạm thời bất định.

Qua những quyển tự điển ghi trên ta thấy có hai từ "bàn hoàn" và "bàng hoàng", nghĩa của nó cũng có khi thấy giống, mà cũng có khi thấy khác. Vậy mà hồi nào giờ tôi lại tưởng chỉ có một từ "bàng hoàng".

Đúng là càng đọc càng thấy mình dốt.



Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2017

Đồn điền.



Đọc sách viết về vùng đất Nam bộ khi xưa ta hay thấy từ "đồn điền", đồn điền bắt đầu phổ biến vào khoảng cuối thế kỷ XVIII đời chúa Nguyễn Ánh. Đây là một mô hình kết hợp giữa việc binh bị và sản xuất nông nghiệp.

Đồn điền gồm 2 chữ hợp lại, "đồn" 屯 có nghĩa là nơi đóng quân (đồn binh), "điền" 田 có nghĩa là "ruộng đất". Năm 1790 sau khi thu phục được đất Gia Định, lập kinh thành Gia Định có quy mô như một kinh đô, để có thể đối đầu lâu dài với nhà Tây Sơn, Đại Nam Thực lục chép Nguyễn Ánh "Bắt đầu đặt đồn điền":

"Vua dụ cho các quan văn giai rằng:"Đạo trị nước, trước hết phải cho đủ ăn. Nếu thóc nhiều của thừa thì việc gì chẳng nên? Bốn dinh Gia Định đất đai rất rộng. Trước kia việc quân chưa xong, đói kém xảy ra luôn, đến nỗi ruộng vườn bỏ hoang, dân chưa ra sức việc nông, của nước lương quân còn chưa đầy đủ. Đồn điền là phép hay đời xưa, nay muốn cử hành mà chưa nắm được chỗ cốt yếu. Các khanh vốn có mưu xa kinh quốc, ở vị mình tất phải tính việc mình, đều nên điều trần quy thức, viết thành lập riêng tiến trình, trẫn sẽ chọn những điều hay mà đem thi hành".. Rồi ra lệnh cho các đội túc trực và các vệ thuyền dinh Trung quân ra vỡ ruộng ở Vàm Cỏ, đặt tên là trại Đồn Điền, cấp cho trâu bò điền khí và thóc ngô đậu giống. Đến ngày thâu hoạch đem hết về kho (tức kho Chừ Tích, sau đổi làm kho Đồn Điền). Lấy cai cơ hiệu Tiền dực là Nguyễn Bình trông coi việc ấy.

Lại hạ lệnh cho các nha văn võ mộ người lập các đội nậu đồn điền, hằng năm thu thóc sưu mỗi người 6 hộc. Dân thực nạp ai mộ được 10 người trở lên thì cho làm cai trại và rút tên khỏi sổ của thôn".

Bắt đầu từ năm 1791 Nguyễn Ánh cho lập thêm nhiều mô hình đồn điền ở các đạo Long Xuyên, Ba Thắc, Trà Vinh, Bà Rịa, đến năm 1793 ở đạo Kiên Giang cũng đã lập đồn điền.

Đấy là đồn điền của chúa Nguyễn Ánh. Sau này thời Pháp thuộc, người Pháp cũng lập nên những nơi gọi là đồn điền, phổ biến trồng cây cao su gọi là "đồn điền cao su", những đồn điền cao su này mô hình không giống như đồn điền thời nhà Nguyễn.

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2017

Chuyện Sài Gòn xưa: Kinh thành Gia Định.

Thành Quy. Ảnh Internet.

Bản đồ Sài Gòn năm 1815 nơi vị trí của thành Quy. Ảnh Internet.

Rảnh rỗi lấy mấy quyển sách đã mua lâu nay ra xem lại (tôi có cái tật nhiều khi sách mua không đọc ngay hoặc không đọc một lúc hết quyển sách, mà có khi để đó rồi quên, hay đọc theo kiểu lai rai, giở sách ra xem mục lục, đoạn nào thấy hay đọc trước). Trong một quyển sách viết về Sài Gòn (Sài Gòn Xưa & Nay), bài của tác giả Nguyễn Đình Đầu có tiêu đề là "Địa danh Gia Định" có đoạn viết:

"Địa danh Gia Định đã xuất hiện từ 300 năm qua, nhưng khi là phủ, là tỉnh, là toàn xứ Nam bộ, lại chỉ định những địa bàn hành chính rất khác nhau. Thật là phức tạp, chúng ta cần xem xét".

..............

Gia Định kinh từ năm 1790 đến năm 1802:

Sau khi thâu hồi đất Gia Định, Nguyễn Ánh cho xây thành Bát Quái* rộng lớn theo cách bố phòng Vauban**, định hướng phong thổ Á Đông, theo mỹ thuật dân tộc Việt Nam và mệnh danh là Gia Định kinh.

Gia Định trấn từ năm 1802 đến năm 1808:

Năm 1802 Nguyễn Ánh thâu phục kinh thành Phú Xuân, rồi lên ngôi và lấy đế hiệu Gia Long bèn hạ cấp Gia Định kinh xuống thành Gia Định trấn thành. Cải tên phủ Gia Định làm tên trấn Gia Định và đặt "trấn quan" để cai quản cả ngũ trấn là: trấn Phiên An, trấn Biên Hòa, trấn Định Tường, trấn Vĩnh Long, trấn Hà Tiên.

..............

Trong sách sử Đại Nam thực lục của triều Nguyễn có ghi:

"Ngày Kỷ sửu (Tháng 3, Canh tuất, năm thứ 11 [1790] [Thanh - Càn Long năm thứ 55]), đắp thành đất Gia Định. Vua thấy thành cũ ở thôn Tân Khai chật hẹp, bàn mở ộng thêm. Dụ rằng: "Vương công giữ nước, tất phải đặt nơi hiểm yếu trước. Nay đất Gia Định mới thu phục, cần phải sửa thành trì cho bền vững để chỗ ở được vững mạnh". Bấy giờ mới huy động quân dân để khởi đắp, hẹn trong mười ngày đắp xong. Thành đắp theo kiểu bát quái, mở tám cửa, ở giữa là cung điện, bên tả dựng nhà Thái miếu***, phía sau miếu là kho tàng, bên hữu đặt cục Chế tạo, chung quanh là nhà tranh cho quân túc vệ ở. Giữa sân dựng kỳ đài ba tầng, trên là tòa vọng đẩu bát giác, ban ngày kéo cờ, ban đêm thì kéo đèn làm hiệu cho các quân. Thành xong, gọi tên là kinh thành Gia Định. Thưởng cho dân quân hơn 7000 quan tiền".

Gọi tên là thành Bát Quái vì thành có 8 cửa, Đại Nam thực lục chép:

"Tám cửa thành đều xây bằng đá ong, phía nam là cửa Càn Nguyên và cửa Ly Minh, phía bắc là cửa Khôn Hậu và cửa Khảm Hiểm (Đại Nam nhất thống chí ghi là cửa Địa Hiểm), phía đông là cửa Chấn Hanh và cửa Cấn Chỉ, phía tây là cửa Tốn Thuận và cửa Đoài Nguyệt (Đại Nam nhất thống chí ghi Đoài Duyệt). Ngang dọc có tám đường, đông sang tây dài 131 trượng 2 thước, nam sang bắc cũng thế, cao 13 thước, chân dày 7 trượng 5 thước. Phía ngoài thành là hào, hào rộng 10 trượng 5 thước, sâu 14 thước có cầu treo bắc ngang. Chu vi ngoài thành là 794 trượng. Ở ngoài là đường phố chợ búa, dọc ngang la liệt đều có thứ tự, hai bên đường quan đều trồng cây thích nghi, gọi là đường thiên lý".

Những quyển sách sử khác cũng của triều Nguyễn là Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí cũng cho ta biết thêm những chi tiết của kinh thành Gia Định. Trong thành có kho bạc, kho đồn điền, trại súng, kho thuốc súng. Ngoài thành có xưởng Chu sư (xưởng thủy quân đóng ghe thuyền, chiến hạm) ở phìa đông, cách một dặm theo bờ sông Tân Bình (khu vực sau này là xưởng Ba Son). Ngoài thành cũng còn có Xưởng voi nuôi và huấn luyện voi chiến, cách thành một dặm có Sứ quán, trường Diễn Võ cách thành 10 dặm về phía tây nam. Tuy kinh thành Gia Định chưa phải là một kinh đô chính thức với ý nghĩa là nơi vua ở vì lúc ấy Nguyễn Ánh chưa lên ngôi vua, nhưng với vị thế lúc bấy giờ, và với quy mô như sách sử đã cho biết thì kinh thành Gia Định không khác gì một kinh đô.

Sau nhiều năm bị quân Tây Sơn của anh em Nguyễn Huệ đánh tan tác, có lúc phải bôn tẩu ra những hải đảo xa xôi hoặc chạy sang tận nước Xiêm, thì thời gian này lợi dụng tình hình đối đầu giữa anh em Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ (1787), và việc Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh, rồi đánh tan quân Thanh (cuối 1788 đầu 1789), Nguyễn Ánh đã củng cố binh lực ở miền Nam, lập kinh thành Gia Định để đối đầu với kinh đô Phú Xuân của Nguyễn Huệ (Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế vào ngày 25 tháng 11 năm Mậu thân [22-12-1788], đóng đô ở Phú Xuân). Cho đến thắng lợi cuối cùng vào năm 1802, thống nhất đất nước về một cõi.


Ghi chú:

* Thành Bát Quái: với quy mô như đã mô tả trong Đại Nam thực lục, thành Bát Quái còn gọi là thành Qui vì hình dạng trông giống như con rùa, theo như ngày nay nằm lọt khoảng giữa 4 con đường: đường Đinh Tiên Hoàng phía đông, Nam Kỳ Khởi Nghĩa phía tây, Nguyễn Đình Chiểu phía bắc, nói thành đắp bằng đất thực ra còn xây bằng đá ong Biên Hòa và gạch rất chắc chắn, vữa xây bằng mật mía, việc xây dựng này Nguyễn Ánh đã phải huy động tới 30.000 dân quân. Năm 1833 dưới triều vua Minh Mạng Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm thành Quy, cuộc nổi dậy kéo dài trong 3 năm sau khi Lê Văn Khôi bị bệnh mất thì thành thất thủ. Vua Minh Mạng lện cho phá hủy thành, xây lại thành mới với quy mô nhỏ hơn gọi là thành Phụng.

** Vauban: tên thật Sébastien Le Prestre (1633-1707), Lãnh chúa xứ Vauban, được phong là Hầu tước xứ Vauban, là Thống chế, một kỹ sư quân sự lừng danh, nổi tiếng nhờ những công trình phòng thủ công sự, cũng như cách đánh chọc thủng phòng tuyến công sự.

*** Thái miếu: Thái miếu hay Thái Tổ miếu ở kinh thành Gia Định cũng như ở kinh đô Huế sau này, là nơi thờ các vị chúa Nguyễn.


Tham khảo:

- Những sách đã dẫn.

Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017


Ảnh Internet.

Ta thường hiểu từ "Chủ tịch" là người đứng đầu một tổ chức, một đảng phái, như ở Việt Nam để gọi người đứng đầu quốc gia, đứng đầu quốc hội, hay đứng đầu một cấp chính quyền, mà không để ý nghĩa gốc của từ là gì? Hôm nay, tình cờ đọc lại quyển "Văn minh vật chất của người Việt" của Phan Cẩm Thượng*, thấy ông viết:

"Cái chiếu phổ biến đến mức nó trở thành khái niệm tượng trưng, xác định vị thế xã hội của con người. Người ta gọi là hộ tịch, tức là góc chiếu của gia đình và cá nhân nào đó, trong đó hộ là cái cửa nhà, cái nhà, còn tịch là cái chiếu. Người đứng đầu gọi là chủ tịch, những người khác gọi là tịch viên... Ra đình bạn sẽ được ngồi xếp bằng trên một góc chiếu, đó là vị thế của bạn. Có chiếu trên chiếu dưới phân cấp. Chiếu trên thì gần bàn thờ Thánh, càng xa bàn thờ thì càng là chiếu thấp, thấp nữa là chiếu ngoài sân đình. Riêng những người làm mõ thì ngồi chiếu riêng, ăn mâm riêng được coi là những người hạ đẳng xuất thân từ dân ngụ cư".

Đọc đoạn văn trên thật thú vị, từ chủ tịch trong tiếng Hán được viết như sau 主席, chủ (主) là từ thông dụng, dễ hiểu, có nghĩa là người đứng đầu, người lãnh đạo, còn tịch (席) thì bản thân chữ tịch (席) này có nhiều nghĩa, và nghĩa đầu tiên của nó là cái chiếu. Ngày xưa mọi sinh hoạt của làng xã đều diễn ra nơi đình làng, từ hội họp bàn chuyện làng chuyện nước, đến cúng tế, lễ bái, ăn uống... Thời ấy chưa có lệ ngồi bàn ghế, chỉ trải chiếu xuống đất, chiếu được trải xuống trước bàn thờ để người chủ tế làm lễ trên chiếu, phía sau người chủ tế là những chiếc chiếu khác dành cho các chức sắc trong làng, rồi đến người dân đến tham dự buổi cúng tế, cúng tế xong thì những chiếc chiếu này trở thành nơi bày mâm đĩa tiệc tùng, mọi người cứ việc ngồi xếp bằng tròn trên chiếu mà đánh chén.

Và ta cũng thấy, tùy theo vị trí của chiếu mà phân định thứ hạng trong làng, quan viên, kỳ mục, bô lão... thì ngồi "chiếu trên", gần nơi bàn thờ Thánh, dân thường thì ngồi "chiếu dưới" ở xa hơn, còn những người làm mõ (ngày xưa thường gọi bằng từ không tôn trọng là "thằng mõ") thì ngồi chiếu tuốt ngoài sân đình...

* Văn minh vật chất của người Việt, Phan Cẩm Thượng, NXB Tri Thức-2015.

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

Ý nghĩa một số từ thường gặp trong Phật giáo (2).



- Già lam 伽 藍: S: samgha-ārāma, tiếng gọi tắt của Tăng già lam ma, có nghĩa là "khu vườn của chúng tăng", "chủng viện", chùa hay tu viện của Phật giáo.

- Giác ngộ 覺 悟: S, P: bodhi. Nghĩa là "hiểu ra", trong Phật giáo là thuật ngữ chỉ trạng thái tỉnh thức lúc con người trực nhận được tính. Giác ngộ là kinh nghiệm của bản thân không thể giải bày.

- Hành cước 行 腳: đi chu du các nơi, có thể là để tìm thày học đạo.

- Hộ pháp 護 法: S: dharmapāla, P: dhammapāla. Người bảo vệ chánh pháp.

- Kệ 偈: S, P: gāthā, gọi đầy đủ là kệ đà, là những bài ca, bài thơ chứng đạo của những tỳ kheo, thiền sư.

- Kim cương thừa 金 剛 乘: S: vajrayāna, một trường phái Phật giáo của Đại Thừa xuất hiện tại miền Bắc Ấn Độ khoảng thế kỷ thứ V, VI và được truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản. Kim Cương Thừa thêm những phương pháp tu tập có tính chất huyền bí, bí truyền.

- Kinh 經: S: sutra, P: sutta, còn gọi là Khế Kinh. Tên để gọi các bài giảng của Đức Phật, gọi chung là Kinh Tạng.

- La Hán 羅 漢: S: arhat, viết rút gọn của A La Hán, người tu Phật xuất gia đã dứt phiền não, là Thánh quả cao nhất của Phật giáo nguyên thủy. Để chỉ 18 vị tu hành đã đạt chánh quả thường thấy tượng trong các chùa.

- Luân hồi 輪 迴: S, P: samsāra, nguyên nghĩa Phạn ngữ là lang thang, trôi nổi. Hán tự luân: bánh xe, hồi: trở về. Kiếp chúng sanh như bánh xe quay mãi không dứt trong Lục đạo.

- Lục căn 六 根: chỉ 6 giác quan, Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý.

- Lục đạo 六 道: S: sadakula. sáu đường tái sinh trong luân hồi gồm 3 thiện đạo và 3 ác đạo: Thiện đạo: Cõi người - Cõi Thiên - Cõi A Tu La. Ác đạo: Ngạ quỷ - Địa ngục - Súc sanh.

- Lục tặc 六 賊: Sáu "kẻ cướp" nơi Lục căn thường đem lại phiền não.

- Man-đà-la: S: mandala, nguyên nghĩa là vòng tròn, vòng cung. Một biểu tượng quan trọng của Phật giáo Tây Tạng về năng lực vũ trụ được thể hiện bằng tranh vẽ.

- Mạt Pháp: 末 法: Thời cuối cùng của Phật pháp (gồm 3 thời kỳ Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp).

- Ngã 我: S: ātman. P: atta. Ta, tôi. Đâo Phật chủ trương không có cái ta (vô ngã), người cũng như mọi sinh vật khác chỉ là do ngũ uẩn hợp lại

- Nghiệp 業: S: karma, P: kamma. Có nghĩa là hành động, việc làm, có nghiệp lành (thiện nghiệp, nghiệp dữ (ác nghiệp). Nghiệp rất quan trọng trong Phật giáo, kinh Trung bộ viết: Người là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp.

- Ngũ giới 五 戒: S: P: panca-sila, năm điều cấm đối với người tu tại gia theo đạo Phật: sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói bậy, uống rượu.

- Ngũ uẩn 五 蘊: S: panca-skandha, P: panca-khandha. Gồm: Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức, năm thứ hợp lại thành chúng sanh.

- Phạm Thiên 梵 天: S: brahma-loka. Các cõi trời không còn lòng dục, chúng sinh ở đây không cần ăn uống và không có giới tính. Để chỉ một vị thàn được xem như thần Hộ pháp trong Phật giáo.

- Quy y 歸 依: về với, nương tựa, Quy y Tam bảo, về với Tam bảo, nương tựa vào Tam bảo (Phật - Pháp - Tăng).

- Sa di 沙 彌: S: srāmanera, P: sāmanera. Tiểu tăng, tiểu sa môn.

- Sát na 剎 那: S: ksana. Một khoảng thời gian rất ngắn, một đơn vị thời gian của một niệm, một ý nghĩ.

- Ta bà thế giới, Sa bà thế giới 娑 婆 世 界: S: sahalokadhātu. Cõi người, thế giới nơi con người ở.

- Tam bảo 三 寶: S: triratna, P: tiratana. Ba ngôi báu trong Phật giáo: Phật - Pháp - Tăng.

- Thập mục ngưu đồ 十 牧 牛 圖: Mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng trong Thiền tông của Phật giáo Đại thừa.

- Tì kheo (Tì khâu): S: bhiksu, P: bikkhul. Phiên âm từ Phạn ngữ và tiếng Pali, có nghĩa là "người khất thực", trong Phật giáo để gọi một tăng sĩ xuất gia sống bằng hạnh khất thực tìm chân lý giải thoát.

- Ưu bà di 優 婆 夷: S: P: upāsikā. Nữ Phật tử tu tại gia.

- Ưu bà tắc 優 婆 塞: S: upāsaka. Nam Phật tử tu tại gia.

- Vãng sanh 往 生: Chết, tái sinh, đầu thai (vào một cõi).

- Xá lợi (Xá lị) 舍 利: S: sarira. Chỉ chung những gì còn sót lại sau khi thiêu thân Phật, hoặc các bậc đắc đạo.

Tham khảo:
- Từ điển Phật học Việt Nam, Thích Minh Châu, Minh Chi, NXB Khoa Học Xã Hội-1991.
- Phật học từ điển, Đoàn Trung Còn, NXB TP. HCM-1997.
- Từ điển Phật học, Ban biên dịch Đạo Uyển, Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách, Thích Nhuận Châu, NXB Thời Đại-2011.

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

Ý nghĩa một số từ thường gặp trong Phật giáo.



- A-di-đà 阿 彌 陀: dịch âm từ chữ "amita", S: "amitābha" và "amitāyus". amitābha nghĩa là Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng, Amitāyus là Vô Lượng Thọ, là thọ mệnh vô lượng. A-di-đà là giáo chủ của cõi Cực lạc ("sukhāvatī") ở phương Tây. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Phật giáo Đại Thừa (Tịnh độ tông) tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí huệ.

- A-la-hán 阿 欏 漢: S: arhat, P: arahat, arahant, dịch nghĩa là Sát Tặc (diệt hết giặc phiền nào), là danh từ chỉ một thánh nhân, người đã diệt hết phiền não, là hiện thân của sự giác ngộ.

- A-nan-đà 阿 難 陀: S: ānanda, dịch nghĩa là Khánh Hỉ, Hoan Hỉ, là một trong mười đại đệ tử của Phật, cùng họ, là người hầu cận bên Phật. Người nổi tiếng với trí nhớ phi thường, Tôn giả là người xây dựng cơ bản giáo pháp trong lần kết tập thứ nhất sau khi Phật diệt độ, được xem là Nhị Tổ của Thiền Tông Ấn Độ.

- A-tỳ 阿 鼻: S: avichi, địa ngục khổ nhất trong tám tầng địa ngục, đọa vào đây chúng sinh phải liên tục chịu mọi cực hình.

- A-tu-la 阿 修 羅: S: āsura, nghĩa là Thần, Phi Thiên, nhưng hình thể, tính tình không đoan chính

- Bồ-đề 菩 提: S, P: bodhi, nghĩa là Tỉnh Thức, Giác Ngộ.

- Bồ-đề Đạt-ma 菩 提 達 摩: S: bodhidharma, dịch nghĩa là Đạo Pháp, Tổ thứ 28 của Tiền Tông Ấn Độ, là Sơ Tổ của Thiền Tông Trung Hoa.

- Bồ-tát 菩 薩: Viết tắt của Bồ-đề Tát-đóa, S: bodhisattva, P: bodhisatta. , nguyên nghĩa là "Giác hữu tình", cũng được dịch là Đại Sĩ, là bậc đã đắc quả Phật nhưng nguyện không vào niết bàn để độ cho chúng sanh.

- Bụt: S, P: buddha, dịch âm của Buddha (Phật, Phật Đà). Nghĩa là bậc Giác Ngộ, trong những câu truyện cổ tích dân gian Bụt cũng còn được hiểu như ông Tiên.

- Cấp Cô Độc 給 孤 獨: S, P: anāthapindika, còn gọi là Tu Đạt Đa. Trưởng giả ở Xá Vệ sống cùng thời với Đức Phật, người đã bỏ tiền ra mua khu vườn Kỳ Viên cúng dường Đức Phật và Tăng già, ông cũng là người thường xuyên cấp dưỡng cho những người nghèo, cô độc.

- Công án 公 案: nghĩa gốc là một án công khai, quyết định phải trái nơi quan phủ. Thuật ngữ quan trọng của Thiền Tông, có thể là một đoạn kinh, một bài kệ, một câu chuyện về giác ngộ, một cuộc đàm thoại, vấn đáp hay một cuộc pháp chiến. Công án không phải là một câu đố vì không thể giải đáp bằng lý luận, muốn hiểu một công án phải qua các cấp độ khác nhau của nhận thức.

- Di Lặc 彌 勒: S: maitreya, P: metteyya, , cũng có tên là Vô Năng Thắng. Một vị đại Bồ Tát và cũng là vị Phật thứ năm và cuối cùng xuất hiện trên trái đất, được thờ cúng trong Phật giáo Đại Thừa.

- Du già 瑜 伽: S, P: yoga, nguyên nghĩa là "tự đặt mình dưới cái ách", là phương pháp đề đạt, tiếp cận, thống nhất với Tuyệt đối, Thượng đế.

- Dược Sư Phật 藥 師 佛: S: bhaisajyaguru-buddha, tên gọi đầy đủ là Dược Sư Lưu Ly Quang Phật. Vị Phật đại diện cho sự trọn vẹn của Phật quả, ngài ngự ở cõi phía đông Tịnh Độ. Tranh tượng thường thể hiện tay trái cầm cây cỏ thuốc chữa bệnh, tay phải giữ ấn thí nguyện.

- Đại tạng kinh 大 藏 經: danh từ để chỉ kinh sách Phật giáo, có ba tạng là Kinh Tạng 經 藏, Luật Tạng 律 藏 và Luận Tạng 論 藏. Đặc điểm của Kinh Tạng 經 藏 là bắt đầu vào bài kinh bằng những từ "Như thị ngã văn" (Tôi nghe như vậy).

- Đạo 道: nguyên nghĩa là Con đường, nhưng trong tôn giáo Đạo được hiểu là "Giáo lý", "Chân lý".

- Đạt Lai Lạt Ma 達 賴 喇 嘛: có nghĩa là "đạo sư với trí huệ như biển cả". Danh hiệu của nhà vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng của trường phái Cách Lỗ (Hoàng giáo) năm 1578. Kể từ năm 1617, Đạt Lai lạt Ma đời thứ 5 trở thành người lãnh đạo chính trị và tinh thần của nhân dân Tây Tạng. Ngườita xem Đạt Lai Lạt Ma là hiện thân của Quán Thế Âm. Mỗi một Đạt Lai Lạt ma được xem như tái sinh của vị Lạt Ma trước.

- Địa Tạng 地 藏: Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Địa ngục và trẻ con yểu tử, cũng được xem là chuyên cứu giúp người lữ hành phương xa. Trong Phật giáo Đại Thừa, Địa Tạng là một trong bốn vị đại Bồ Tát (Địa Tạng, Quán Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền).

- Đốn ngộ 頓 悟: ngộ ngay lập tức, ngay bây giờ, trái với Tiệm ngộ, được Nam Tông thiền chủ Huệ Năng chủ trương.

(Còn tiếp)


Tham khảo:

- Từ điển Phật học Việt Nam, Thích Minh Châu, Minh Chi, NXB Khoa Học Xã Hội-1991.

- Phật học từ điển, Đoàn Trung Còn, NXB TP. HCM-1997.

- Từ điển Phật học, Ban biên dịch Đạo Uyển, Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách, Thích Nhuận Châu, NXB Thời Đại-2011.


Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

Đọc.



Tôi vẫn thường xuyên đọc sách, lai rai đọc, rảnh cứ lấy ra mà đọc ngày dăm bảy trang, cũng như đọc kinh... hay tụng kinh kệ vậy.

Tôi thường mang một quyển sách theo đọc khi ngồi một mình ở quán cà phê, chờ khi chở bà xã đi chợ, đi công chuyện, chờ... khám bệnh, hoặc đưa người nhà đi khám, đấy là thời gian mình có thể đọc được nhiều nhất. Bây giờ tôi thường đọc sách về kiến thức, tra cứu, ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo, hồi ký của những người nổi tiếng... Thời trẻ đọc thiên về tiểu thuyết, truyện dịch... Mỗi thời mỗi khác, cũng như suy nghĩ, mỗi thời, mỗi tuổi ta sẽ có những suy nghĩ khác nhau, thậm chí trái hẳn nhau. Đấy cũng là lẽ thường tinh

Tôi có được một tủ sách kha khá, khá nhiều từ điển các loại, mỗi loại từ điển, chẳng hạn như từ điển tiếng Việt, Hán Việt, lại có nhiều quyển, của nhiều tác giả khác nhau, sách về lịch sử, tôn giáo, về phong tục văn hóa dân gian cũng thế, mỗi khi cần tra cứu một vấn đề gì tôi thường tra trên nhiều sách mình có, tra cả trên mạng, rồi so sánh, nhận xét, đúc kết... Đối với nhiều vấn đề trong cuộc sống, tôi vẫn thường luôn có những câu hỏi tai sao, lý do nào sự việc đó lại xảy ra? mục đích là gì? có gì đúng hay sai trái?

Tôi luôn muốn nhìn mọi chuyện theo nhiều chiều, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh. Người ta vẫn thường đóng khung suy nghĩ của mình, có thể trong những thứ muốn "nhân danh" như đạo đức, tôn giáo, hoặc chỉ là những thói quen, thậm chí là trong cái cố chấp, nhìn sự việc bằng những định kiến, thành kiến, hay bằng cái "suy nghĩ của đám đông", mà ít chịu tìm hiểu ngọn ngành, ít chịu đặt những câu hỏi "tại sao?".

Tháng tư nóng, trời đất nóng, thế giới nóng (chuyện Mỹ và Triều Tiên), đất nước nóng, xã hội nóng... Nhưng với tôi, hôm nay đọc được dăm ba trang sách mình thích, thế là được...

Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

Buông.




Đức Phật hỏi một vị Sa môn "Tuổi thọ của con người dài trong bao lâu?", Sa môn trả lời ""Chỉ dài bằng một hơi thở". Đức Phật nói "Đúng vậy. Ông là người hiểu đạo" (trích trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương).

Nguyễn Du viết "Trăm năm trong cõi người ta...", "trăm năm" cõi người ngắn hay dài? Trăm năm chắc là dài lắm, đến một thế kỷ, biết bao nhiêu chuyện xảy ra trong một thế kỷ đó. Nhưng "trăm năm" cũng chỉ bằng "một hơi thở", ai đã sống qua cái ngưỡng sáu mươi, bảy mươi... chắc biết, thời gian qua nhanh lắm, nhanh như "vó câu qua cửa sổ", người ta ví tuổi tác như bước đi của con ngựa, lúc còn trẻ tuổi hai mươi, ba mươi thời gian trôi qua như con ngựa đi bước một, lúc trung niên bốn mươi, năm mươi thời gian trôi qua như con ngựa đi nước kiệu, đến sáu mươi, bảy mươi trở đi là lúc con ngựa phi nước đại, thoắt đã một tháng, đã một năm...

Vậy mà trong cõi ta bà này bây giờ quá nhiều chuyện khiến ta phải lo nghĩ, từ những chuyện "đại đại sự" của thế giới xảy ra ở đâu đó xa lắc, cho đến chuyện "đại sự" "trung sự", "tiểu sự"... của quốc gia. của gia đình, của bản thân... thần kinh nào mà chịu cho thấu...

Một trong những triết lý quan trọng của nhà Phật là "Hãy buông xả", buông được cái gì cứ buông, nhà cửa, cái máy tính, điện thoại lâu lâu còn phải dọn dẹp bớt cho thông thoáng, huống hồ là cái "trí nhớ nhỏ nhoi" của con người ("trong trí nhớ nhỏ nhoi, không còn ai còn ai...", lời trong một bài hát của Trịnh Công Sơn).

Có người buông bằng cách đi du lịch đâu đó vài ngày, tắt điện thoại, tắt mạng, không có kêu gọi, nhắn nhó, chát chít, phây phiếc... gì nữa, có điều kiện làm được thì thật tích cực. Nhưng không phải ai cũng làm được điều đó, riêng tôi nếu có thời giờ đi cùng gia đình, người thân đâu đó, thăm thú vài thiên nhiên, vài cảnh chùa, không có thời giờ nhiều tôi sẽ làm một việc gì đó, đọc vài trang sách, đi uống cà phê, có thể với một người bạn mình trò chuyện được, có thể chỉ một mình ra vỉa hè bờ kênh Nhiêu Lộc, kêu một ly cà phê, ngồi nhìn trời nhìn đất...

Chúa cũng đã nói "Chuyện của ngày mai hãy để cho ngày mai lo...".

Cuối tuần chúc các bạn vui vẻ...

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Bánh trôi, bánh chay.


Bánh trôi bánh chay. Ảnh Internet.

Hôm nay ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch, khoảng thời gian này (mùng 3 đến mùng 5), người Hoa (và cả một số người Việt) cúng bánh trôi bánh chay gọi là "Tết hàn thực", tết này liên quan đến điển tích Giới Tử Thôi, người đời Xuân Thu nước Tấn.

"Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cám kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công trong khi tòng vong, nhưng lại quên mất công lao của Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm. Giới Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng, ý muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh, rốt cục cả hai mẹ con ông đều chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm (khoảng từ mồng 3 tháng 3 đến mồng 5 tháng 3 Âm lịch hàng năm)".

(Trích trang Wikipedia).

Sự tích cúng bánh trôi bánh chay trong ngày hàn thực là vậy. Trang Wikipedia nói về chữ "hàn thực": "Hàn Thực" nghĩa là "thức ăn lạnh", dịch như vậy là dịch sát nghĩa của chữ "hàn" trong chữ Hán, theo tôi khi chuyển sang tiếng Việt nên dịch là "thức ăn nguội". Cũng giống như trong tiếng Pháp gọi hai con đường xưa nối từ Sài Gòn (Bến Nghé) vào Chợ Lớn, một là đường dọc theo bờ kênh (đường Hàm Tử) gọi là Route Haute (route = con đường, haute = cao), nếu dịch sát chữ phải là Đường Cao. Thứ nhì là đường Nguyễn Trãi bây giờ Tây gọi là Route Basse (basse = thấp), dịch sát nghĩa là Đường Thấp. Nhưng người Việt không gọi là Đường Cao và Đường Thấp, mà gọi là Đường Trên và Đường Dưới.

Trở lại chuyện Giới Tử Thôi, ngày xưa bên Tàu, do vua "hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm", nên trong ba ngày đó họ mới nấu bánh trôi để ăn dần, vì đây là loại bánh thả trong nước đường khá đặc có thể để vài ngày không sợ hư, và bánh làm bằng bột nếp có nhân bên trong, ăn tạm no trong vài ngày. Lâu dần từ loại bánh tiện lợi ăn trong vài ngày kiêng nổi lửa (nấu bếp), thành ra loại bánh không thể thiếu dùng để cúng trong ngày tưởng niệm Giới Tử Thôi.

Đấy là điển tích của người Hoa cúng mùng 3 tháng 3, còn đối với người Việt cúng trong ngày này thì sao, chẳng lẽ người mình cũng tưởng niệm một ông Giới Tử Thôi nào đó lạ hoắc? Theo tôi trong việc cúng bái, người Việt có nhiều điều "bắt chước" người Hoa (hoặc làm theo người khác), nhiều khi bắt chước hay làm theo một cách vô thức, thấy ngày đó họ cúng thì mình cũng cúng, cũng làm (như người bên Công giáo bây giờ cũng làm 49, 100 ngày). Nhưng khi cúng bánh trôi trong ngày mùng 3 tháng 3 người Việt mình cúng dâng lên tổ tiên, ông bà, để tưởng niệm những người thân đã khuất. Bà xã tôi nói ngày xưa trong gia đình bà cụ cũng cúng mùng 3 tháng 3, hồi ấy (trước năm 1975), sáng sớm đứa nào đó trong nhà phải xách bịch gạo nếp đã ngâm sẵn từ ngày hôm trước đi xay thành bột, về nhà mới làm thành bánh trôi bánh chay để cúng lên tổ tiên chứ không biết ông Giới Tử Thôi là ai cả.