Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

Ngả - Ngã.




Xem trong tự điển Việt Bồ La (1651) của A. de Rhodes (bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính, NXB Khoa học Xã hội - 1991), thấy có nhiều cái hay về ngôn ngữ xưa - nay, chẳng hạn về từ "ngã ba, ngã tư" mà ta dùng bây giờ. Trong tự điển Việt Bồ La ghi nhận là "ngả" (dấu hỏi) chớ không phải "ngã". "Ngả ba đàng", "Ngả ba soũ" (ngả ba sông), phân biệt với chữ "ngã" (dấu ~) có nghĩa là "té, ngã", có cả từ "ngã nước" là "bệnh vì uống nước không trong lành, nước độc".

Chữ "ngả" và "ngã" trong tự điển Việt Bồ La.

Đến Đại Nam Quấc âm tự vị (1895-1896) của Paulus Huình Tịnh Của cũng ghi nhận là "ngả":

我 Ngả (chữ Nôm). Nhánh đàng đi, chỉ về phía nào, ngả nào.

- Ngả ba. Chỗ đường đi phân ra làm ba.

- Ngả tư. Chỗ đường đi phân ra làm bốn.

- Ngả cái. Ngả sông rạch rộng lớn.

- Ngả con. Ngả sông rạch hẹp.

- Ngả bát. Ngả sông rạch ở phía tay hữu cũng là tên rạch.

- Ngả cạy. Ngả sông rạch ở phía tay tả cũng là tên rạch.

Tự điển Tiếng Việt (1997) Hoàng Phê chủ biên: (chỉ lấy từ liên quan)

- ngả d. Đường đi theo một hướng nào đó, phân biệt với những đường đi theo hướng khác.

- ngã d. (dùng trước danh từ chỉ số). Chỗ có nhiều ngả đường, ngả sông tỏa đi các hướng khác nhau. Ngã năm. Ngã ba sông.

Coi bộ ngày xưa viết "ngả" hay hơn "ngã" bây giờ, có lẽ chữ "ngã" trong "ngã ba, ngã tư" được dùng sau này, là từ phái sinh từ chữ "ngả".

Khá lạ là trong Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (Hanoi 1931), cũng chỉ có từ "ngả" (ngả ba), với nghĩa là "chỗ đầu ba con đường giao với nhau", không có từ "ngã" với ý nghĩa "ngã ba, ngã tư" như hiện nay.

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

Học chữ Nho.



Sách Chữ Nho Tự Học của GS. Đào Mộng Nam.

Chữ của người Trung Hoa ngày xưa ông bà ta gọi là chữ "nho". Hàn nho có nghĩa là nhà nho nghèo, học trò nghèo, nho gia là để chỉ người đi học, người có học, nho nhã là cái dáng vẻ của người có học (chữ nho) thuở trước. Đạo nho là một học phái do Khổng Tử khai sáng, chữ nho là chữ thánh hiền.

Vào khoảng nửa sau của những năm 1960 lúc bắt đầu học trung đệ nhị cấp tôi đã mày mò làm quen với chữ nho. Thoạt đầu học chơi mấy buổi với giáo sư Đào Mộng Nam, hồi đó ông là giáo sư đại học, dạy ở đại học Văn khoa, Vạn Hạnh ở Saigon. Ông mở một lớp học miễn phí để phổ biến chữ nho, ông giảng giải về sự hình thành của chữ nho, hướng dẫn cho cách viết chữ, thế nào là nét ngang, thế nào là nét sổ (nét dọc), nét nào viết trước nét nào viết sau, rồi cứ thế theo mấy quyển sách Tự học chữ nho của ông mà học. Sách của ông dạy rất dễ hiểu, tôi đã học khoảng gần hai ngàn chữ trong mấy quyển sách của ông. Tới bây giờ tôi vẫn còn giữ được mấy quyển sách này của ông, tính ra cũng xấp xỉ 50 năm.

Đến đầu thập niên 1970 tôi vào quân đội rồi chuyển đến Tây nguyên. Xa nhà nhiều khi chẳng biết làm gì nên ghi tên học hàm thụ chữ nho, người ta gởi tài liệu đến tận KBC (Khu bưu chính) đơn vị, mua thêm sách học. Đời lính đây đó, nhưng thời gian rảnh lại khá nhiều, về phố thì quán xá cà phê, còn khi đi công tác thì mang vài quyển sách, tài liệu theo ba lô. Có những khi ở những nơi đèo heo hút gió cả tháng, như trong một làng Thượng ở Pleiku, Kontum, quán xá không có, ngắm mấy cô Thượng mãi cũng chán, đành phải mang sách ra học.

Chữ nho có một đặc điểm là học chữ nào biết chữ đó, học thì khó nhớ vì khá nhiều nét phức tạp, mà quên thì rất dễ vì ta không hay dùng nó. Chữ nho đơn giản nhất chỉ có một nét như chữ nhất (一), và phức tạp nhất có chữ lên đến khoảng 30 nét, rất nhiều chữ mười mấy hai mươi mấy nét, như chữ nghiêm (nghiêm trang) 嚴 (17 nét), chữ chúc (dặn bảo) 囑 (21 nét). Chữ nho khó nhớ mặt chữ vì có nhiều chữ viết na ná giống nhau, Hai chữ đơn giản là chữ nhật 日 (mặt trời) và chữ viết 曰 (nói) nhìn có thể lầm lẫn. Cho nên người ta nói "chữ tác 作 đánh chữ tộ 祚" là thế.

Chữ nho viết chữ nào đọc chữ nấy, nhưng một âm lại có nhiều chữ viết, rồi trong một chữ viết lại có nhiều nghĩa khác nhau, chữ đó khi đi với chữ này thì hiểu thế này, nhưng khi đi với chữ khác lại hiểu khác. Chẳng hạn đọc là "nha", có đến mười mấy chữ nha, nha 牙 là răng, cũng có nghĩa là ngà, nha 鴉 là con quạ, cũng để chỉ màu đen, nha 衙 là sở quan. Nha môn 衙門 là cửa quan, nhưng "liễu nha" 柳衙, cũng chữ nha 衙 trong nha môn, lại có nghĩa là hàng cây liễu... Trong chữ nho có rất nhiều thành ngữ, điển cố, điển tích. Có những câu tưởng dễ nhưng nếu không biết được điển tích của nó cũng chẳng thể hiểu được ý nghĩa, chẳng hạn như "Thủ chu đãi thố" 守株待兔, nôm na là "Ôm cây đợi thỏ". Tại sao lại ôm cây đợi thỏ? Ta thấy khó hiểu nguyên câu dù có hiểu được từng chữ, vì đó là một tích của người Hoa, mà trong sách của người Hoa cơ man những điển tích như thế.

Cho nên nếu có ai đó nói học chữ nho dễ ợt, năm bảy tháng, một năm là đọc được Thủy hử, Tam quốc, chắc người đó chỉ nói chơi hay nói... xạo.

Có tổng cộng bao nhiêu chữ nho? Trong quyển tự điển chữ nho là Khang Hi, soạn vào đời Khang Hi bên Tàu có 47.035 chữ, xấp xỉ năm mươi ngàn chữ. Trong đó có khoảng 4.000 chữ thông dụng. Giả sử một ngày ta học được 5 chữ, thì với 4.000 chữ thông dụng ta cũng phải mất khoảng 800 ngày học miệt mài, mà đấy là ta phải sử dụng chữ nho hàng ngày để không quên, chứ với kinh nghiệm thì học 5 chữ, chỉ vài ngày buông lơi là đã quên tuốt ba, bốn chữ, nhất là những chữ khó, nhiều nét.

Ngày xưa học trò chuyên cần học cũng phải mất cỡ mười năm mới có thể sử dụng được chữ nho để đọc sách thánh hiền, làm được thơ phú, để đi thi có khi còn khó hơn. Tôi học chơi vài năm, chữ nhớ chữ còn, thỉnh thoảng đi đường có thể đọc được tên ba cái bảng hiệu của người Hoa, đến đình chùa cũng ráng đọc được vài ba bức hoành phi, bao lam. Đọc từng chữ thì được, nhưng nhiều khi ghép lại cả câu thì không hiểu. Chữ nho là thứ chữ rất cô đọng, không thật rành rẽ không dễ gì hiểu được một câu, dù có khi chỉ là câu đơn giản.

Trên kệ sách của tôi bây giờ có mười mấy quyển tự điển chữ nho (Hán Việt, Việt Hán), nhưng chữ thì quên gần hết sạch rồi.














Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Bài và bản - Ca và hát.


Xưa nay ta thường nói "ca một bài vọng cổ" hay "hát một bản cải lương", thì các từ "ca", "hát", "bài", "bản" có ý nghĩa như nhau, nhưng đọc trong sách khảo cứu về âm nhạc dân tộc*, thấy Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê viết:

VÀI NHẬN XÉT VỀ BÀI "DẠ CỔ HOÀI LANG" MỘT HIỆN TƯỢNG TRONG CỔ NHẠC VIỆT NAM

Trước hết tôi xin mở ngoặc về hai chữ "bài" và "bản" chúng tôi đã dùng phía trên. Chúng tôi viết bài "Dạ cổ hoài lang" mà bản "Dạ bán chung thinh" vì lẽ ông Sáu Lầu, chẳng những đặt nhạc mà đặt lời ca cho bài "Dạ cổ hoài lang". Bài ca và bản nhạc. Bản "Dạ bán chung thinh" chỉ có nhạc mà không có lời. Mấy bài của ông Nguyễn Tri Khương sáng tác đều có nhạc lẫn lời, nên tôi tôi dùng chữ "bài".

Trong vọng cổ, cải lương, theo GS. TS Trần Văn Khê thì "bản" chỉ có nhạc mà không có lời, còn "bài" thì có cả nhạc lẫn lời.

GS. TS Trần Văn Khê viết tiếp:

Luôn dịp tôi xin các bạn độc giả lưu ý đến hai chữ "ca" và "hát".

"Ca" là tiếng Hán Việt, còn "hát" là tiếng Nôm. Những từ như "quốc ca", "thánh ca", "dân ca", "ca khúc", "ca trù" là những từ Hán Việt. "Hát" là tiếng Nôm. Những từ "hát bội", "hát tuồng", "hát chèo", "hát cải lương", "hát đúm", "hát ghẹo", "hát xoan" là tiếng Nôm. Chữ "ca", có thể dùng trong tiếng nói thông thường, như tôi "ca" một bài Vọng cổ, tôi "hát" một bài Quan họ. Thì hai chữ "ca" và "hát" có nghĩa hơi khác nhau một chút.

"Ca" dùng cho những bài ca có làn điệu nhất định, thường thì nhạc có trước lời ca, và lời ca phải đặt theo làn điệu. Như bài Hành vân, Tứ đại, có nét nhạc cố định, nên chúng ta nói Tôi "ca" bài Hành vân, bài Tứ đại, chớ không nói tôi "hát" bài Hành vân.

"Hát" dùng cho những bài trong đó nét nhạc không cố định mà tùy theo lời, như trong hát tuồng, hát bội, người ta dùng từ "hát khách", "hát Nam" vì các bài hát khách, hát Nam không có một nét nhạc cố định mà nét nhạc tùy theo thanh giọng của lời thơ, lời phú. Lời trong các bài Quan họ là thơ lục bát hay lục bát biến thể, lời trong mấy bài "hát nói" cũng được đặt trước rồi nét nhạc tùy theo lời thơ mà lên xuống bổng trầm.

Khi "ca" người ca ngồi yên một chỗ. Khi thêm một vài "bộ điệu" thì "ca tài tử" đã biến thành "ca ra bộ". Nếu ngồi yên mà ca người ta dùng chữ "ca tài tử". Mà khi lên sân khấu, có cử động nhiều, từ dùng là "hát cải lương".

Khi "ca" thì có đờn phụ họa, thường là loại ti trúc, đờn dây tơ, sáo trúc, chớ không có kèn thổi. Nhịp chỉ có phách, song lan (hay song loan), sanh, nhịp đều theo trường canh chớ không có tiếng trống, chiêng. Trong khi "hát" thì tiết tấu không đơn giản mà rất phức tạp, như nhịp phách hát Ả đào, nhịp hát Chèo so trống đé, mõ, thanh la v.v... phụ họa. Hát Bội, hát Tuồng thì có kèn thổi bao, trống chiến "đầu đường" hay "đồ đường" (tức là đồng la) đánh theo nhịp, theo những "chu kỳ", những "quận" rất phức tạp.

Thường thì chúng ta dùng các từ rất đúng, nhưng cũng có khi không để ý tưởng rằng, "bài" cũng như "bản", "ca" cũng như "hát", nên chúng tôi giải thích cho những bạn nào đặt câu hỏi tại sao khi tôi dùng chữ "bài", khi tôi dùng chữ "bản".

Đọc những ý kiến của một bậc thày về âm nhạc dân tộc trên đây, ta mới hay, tuy ngày xưa xã hội đã coi nghề ca hát, diễn tuồng tích là "xướng ca vô loại", nhưng mà để đạt được, hay hiểu được cái "vô loại" của "xướng ca" cũng toát mồ hôi và không phải là điều đơn giản.

Ảnh Internet.

Ghi chú:

* Sách Văn hóa với Âm nhạc dân tộc của GS. TS Trần Văn Khê, NXB Thanh Niên - 2000.

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

Đờn ca tài tử.

Một ban nhạc đờn ca Tài tử năm 1911 ở Nam bộ (ảnh của trang Wikipedia).

Đờn ca tài tử hay ca nhạc tài tử là một hình thức âm nhạc thính phòng, để nghe chứ không phải để xem, với một ban nhạc gọn nhẹ và một không gian thu hẹp. GS. Trần Văn Khê viết về đờn ca Tài tử như sau:

"Vào đầu thế kỷ XX, âm nhạc Tài tử miền Nam đã thành hình, nhờ vào các nhạc sỹ, nhạc quan của triều Nguyễn, theo phong trào Cần Vương vào Nam, đem theo truyền thống âm nhạc đất Thần Kinh, chuyển thành hơi miền Nam, có khi đi ngang qua các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi trước khi vào Nam, nên các bực thầy trong nghề thường nói gốc đờn Tài tử là đờn Huế hay đờn Quảng.

Chữ "Tài tử" có nghĩa là "người có tài" mà cũng có nghĩa là "không chuyên nghiệp". Mà không chuyên nghiệp không phải là tài nghệ không cao, không cần luyện tập. Những người nổi tiếng trong giới Tài tử là những bực thầy, bài bản đầy đủ, lại có những ngón đờn, những chữ nhấn độc đáo, tuyệt diệu. Nhưng muốn nghe tiếng đờn kỳ diệu đó, không phải có tiền mà được. Người đờn "Tài tử" chỉ gặp nhau trong những buổi hòa nhạc để thưởng thức tài nghệ chớ không phải đờn để kiếm tiền mưu sống".

Đọc thấy ý kiến của GS. Trần Văn Khê về đờn ca Tài tử, một bậc thày về âm nhạc dân tộc Việt Nam, rất xác đáng. Chữ "Tài tử" ở đây vừa có nghĩa là "người có tài", mà cũng vừa có nghĩa là "không chuyên nghiệp". Tài của đờn ca trong đờn ca Tài tử ai cũng biết, còn "không chuyên nghiệp" ở đây không phải là "không chuyên" về "ngón nghề" đờn ca, mà không chuyên về "kiếm tiền mưu sinh". Bước đầu của đờn ca Tài tử thuộc về những lưu dân từ miền Trung theo chúa Nguyễn vào đất phương Nam mấy trăm năm về trước, họ vì những lý do khác nhau mà phải rời bỏ quê nhà lưu lạc đến chỗ xa lạ, nơi rừng thiêng nước độc, nên những lúc rỗi rảnh dăm ba người tụ tập nhau lại trên một chiếc xuồng, dưới bóng của một tán cây, trên một bộ ngựa hay một chiếc chiếu nơi một góc hè, lấy âm nhạc (với cây đờn kìm, đờn cò...) làm chỗ gởi gắm nỗi niềm, tâm sự... Dần dần đờn ca tài tử phổ biến trong những đám tiệc, lễ hội, đi vào lòng quần chúng, từ bình dân đến quan chức, trí thức.

Mãi về sau này, đến khoảng đầu thế kỷ XX, ở Mỹ Tho mới có một ban nhạc đờn ca Tài tử do ông Nguyễn Tống Triều lập, ông Triều sử dụng đờn kìm, ông Bảy Vô đờn cò, ông Chín Quán đờn độc huyền, ông Mười Lý thổi tiêu, cô Hai Nhiễu đờn tranh, và cô Ba Đắc hát. Mỗi tối thứ bảy ban nhạc này trình diễn tại khách sạn Minh Tân gần ga xe lửa Mỹ Tho. Khách đến nghe ngày càng đông. Ông chủ rạp hát bóng Casino thấy khách đến xem đông quá, mới nghĩ đến việc đem ban nhạc này trình diễn cho khán giả xem ở rạp trước giờ chiếu phim như một phụ diễn (cái chính là chiếu phim, xưa gọi là hát bóng hoặc chớp bóng). Bắt đầu từ đó ca nhạc Tài tử bước lên sân khấu chuyên nghiệp là ở rạp hát bóng. Về sau ca nhạc Tài tử có dịp xuất ngoại (khoảng 1910) đi Pháp trình diễn trong dịp đấu xảo, và sau đó phát triển nơi sân khấu, nhà hàng ca nhạc trong nước, các nhạc công, ca sĩ sống được bằng nghề đờn ca Tài tử. Ông Tư Triều (Nguyễn Tống Triều ở Cái Thia), được xem là người đờn hay nhất.

Riêng về chữ "tài tử" ta thấy xưa nay có hai cách hiểu:

1/- Cách hiểu ngày xưa "tài tử" có nghĩa là "người có tài", như trong truyện Kiều của Nguyễn Du "Dập dìu tài tử giai nhân/ Ngựa xe như nước áo quần như nen" (câu 47-48), hay "Thực là tài tử giai nhân/ Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn" (câu 1457-1458). Trong từ điển truyện Kiều, Đào Duy Anh đã giảng nghĩa chữ "tài tử": chỉ người đàn ông có tài, đối với giai nhân. Trong Hán Việt tự điển, Đào Duy Anh cũng giải thích chữ "tài tử" 才 子: Người có tài (homme de talent).

Đại Nam Quấc âm tự vị (1895-1896) của Paulus Huình Tịnh Của viết: Tài tử. Kẻ có tài riêng; kẻ chuyên nghề cổ nhạc, nhạc công. Và từ "Bọn tài tử": Bọn chuyên nghề cổ nhạc.

Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức viết: Tài tử 才 子: 1. Người có tài. 2. Người chuyên nghề âm nhạc.

Tự điển Việt Nam Phổ thông của Đào Văn Tập (Sài Gòn- 1951): Tài tử: Người có tài. Chỉ người chuyên về một nghệ thuật nào, chỉ vì thích nghệ thuật đó, chứ không dùng tài để mưu sinh.

Ta thấy chữ "Tài tử" trong Tự điển Việt Nam của Đào Văn Tập (1951), có ý nghĩa như giải thích của GS. Trần Văn Khê.

2/- Cách hiểu về sau này ngoài việc hiểu như trên, Việt Nam Tân tự điển (Saigon-1952) của Thanh Nghị ghi nhận:

- Tài tử. 1. Người có tài. Homme de talent. 2. Nghệ sĩ: Tài tử chớp bóng. Artiste. Ngr. (nghĩa rộng). Thường để chỉ một người chơi một môn gì chỉ vì thích mà chơi chớ không phải làm nghề riêng: Nhà nghề, tài tử. Amateur.

Xem ra đến thời gian này (thập niên 1950), theo như Việt Nam tự điển của Thanh Nghị, thì từ "Tài tử" còn dùng đề chỉ "Nghệ sĩ: Tài tử chớp bóng. Artiste", và còn dùng để phân biệt giữa "nhà nghề, tài tử" (amateur).

Từ điển tiếng Việt (1997), Hoàng Phê chủ biên ghi rõ hơn:

- Tài tử:

I. (cũ) 1. Người đàn ông có tài. 2, Diễn viên sân khấu, xiếc hay điện ảnh có tài.

II. 1. Không phải chuyên nghiệp, chỉ do thích thú mà chơi hoặc trau dồi một môn thể thao văn nghệ nào đó. 2. (Phong cách lề lối làm việc) tùy hứng, tùy thích, không có sự chuyên tâm.

Ảnh của trang Wikipedia.

Tham khảo:

- Sách đã dẫn.

- Trần Văn Khê & Âm nhạc dân tộc, GS. TS Trần Văn Khê, NXB Trẻ-2000.
- Sân khấu cải lương Nam bộ, Đỗ Dũng, NXB Trẻ-2003.
- Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Nguyễn Lê Tuyên-Nguyễn Đức Hiệp, NXB Văn hóa - Văn nghệ TP. HCM & Cty Phương Nam-2013.

Thứ Hai, 2 tháng 10, 2017

Tổ nghề.

Nghệ sỹ Sài Gòn rước bàn thờ Tổ nhân ngày giỗ Tổ Sân khấu. Ảnh TTO.

Hôm qua xem trên báo mạng thấy nghệ sỹ sân khấu các nơi tổ chức dâng hương giỗ tổ vào ngày 11-12 tháng 8 âm lịch. Nghề nào cũng có các vị tổ của nghề đó, chẳng hạn như cao tăng Nguyễn Minh Không thời Lý được vinh danh là Lý Quốc Sư, là tổ của nghề đúc đồng. Tổ nghề chạm vàng bạc là ba anh em họ Trần (Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền). Công chúa Thiều Hoa con vua Hùng Vương thứ 6 là tổ của nghề lụa. Lê Công Hành là tổ của nghề thêu... Nhưng trong những bài báo viết về ngày giỗ tổ ngành sân khấu, chỉ nói đến "tổ" thôi chứ không thấy nói tổ của ngành sân khấu là ai?

Đại Việt sử ký toàn thư chép, từ thời nhà Lý (Ất Sửu năm thứ 16 - 1025) khi ấy có con hát là Đào thị (người con gái họ Đào), giỏi nghề hát, thường được thưởng, người bấy giờ hâm mộ tiếng của Đào Thị, cho nên phàm con hát đều được gọi là Đào nương. Ta thấy ngay từ thời nhà Lý cách nay khoảng 1000 năm, đã có con hát, tức là người biểu diễn nghệ thuật hát ở nước ta rồi, lúc ấy chắc chỉ hát trong cung đình.

Đời nhà Trần sách chép, trong cuộc chiến chống Nguyên Mông, quan quân nhà Trần bắt được Lý Nguyên Cát là người Nam Tống có tài ca hát. Lý Nguyên Cát soạn ra các vở tuồng và chỉ vẽ cho người Việt diễn tuồng. Có lẽ đây là loại hình diễn tuồng cổ của Trung Hoa.

Sang đến đời vua Lê Đại Hành trong cuộc chiến với người Chiêm Thành, cũng bắt được nhiều ca kỹ của họ mang về nước bắt họ múa hát vui chơi. Bây giờ ta còn thấy người Chiêm Thành (Chăm), có một nền nghệ thuật biểu diễn múa hát tôn giáo, dân gian rất đặc sắc. Chắc ta cũng học được nhiều cái hay trong nghệ thuật mùa hát của họ.

Nếu chỉ kể tổ của ngành sân khấu là người Việt, có lẽ Đào thị đời nhà Lý, tuy chỉ biết họ chứ không rõ tên là gì, xứng đáng được tôn vinh là tổ.

Như đã biết, trong nghệ thuật sân khấu, người ta phân ra nhiều ngành, nhiều bộ môn, chẳng hạn miền Bắc có Ca trù, hát Chèo, hát Xẩm... miền Nam có hát Cung đình, hát Bội, Cải lương... trong mỗi ngành sân khấu hoặc mỗi địa phương như thế thường lại có những tổ riêng. Chẳng hạn Đinh Dự là tổ của Ca trù được thờ ở nhiều địa phương miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Ninh Bình... Đào Thị Huệ là tổ ca trù ở Đào Đặng, Hưng Yên. Phạm Thị Trân là tổ nghề hát Chèo. Trần Quốc Đĩnh là tổ nghề hát Xẩm...

Về nghệ thuật nhạc Cung đình triều Nguyễn có thể kể Đào Duy Từ (1572-1634). Xuất thân là con nhà hát xướng ông không được đi thi dưới triều Lê, ông phẫn chí bỏ vào Đàng Trong được chúa Nguyễn Phúc Nguyên phong làm quan Nội tán với tước Lộc Khê Hầu. Ông cầm quân đánh giặc giỏi, đồng thời cũng rất giỏi về âm nhạc và tổ chứ âm nhạc. ông đã lập ra Hòa thanh thự trong triều đình gồm ba đội: đội nhất và đội ba chuyên về nhạc, đội nhì chuyên về ca múa. Mỗi đội có một suất đội và 120 người lính đều thuộc quyền trông coi của viên phó quản. Các đội này chuyên phục vụ trong những dịp nghi lễ, tế bái, yến tiệc của cung đình.

Về nghệ thuật hát Bội sân khấu tuồng có Đào Tấn (1845-1907), ông là nhà sáng tác, nhà đạo diễn lớn nhất trong lịch sử hát Bội Việt Nam. Cuộc đời của ông gắn liền với nghệ thuật hát Bội. Mặc dù việc làm quan rất bận rộn, nhưng ông vẫn vừa sáng tác, vừa vhi3nh lý những vở tuồng cổ, mở trường đào tạo diễn viên, tổ chức biểu diễn. Thời gian đổi về kinh là Thượng thư Bộ Công (1894) ông có xây Học Bộ Đình ở Huế để đào tạo diễn viên và biểu diễn hát Bội. Thời gian làm Tổng đốc Nam Ngãi, ông lại làm một nhà hát bên bờ sông Vĩnh Điện.

Cuối đời khi về hưu ở quê ông thành lập Học Bộ Đình ở Vĩnh Thạnh. Ông cũng viết được nhiều vở tuồng mới như Quan Công Quá Quan, Trầm Hương Các, Hộ Sinh Đàn, Hoàng Phi Hồ Quá Giới Bài Quan, và chỉnh lý các vở Tam Nữ Đồ Vương (lấy tên Khuê Các Anh Hùng), Sơn Hậu, Đào Phi Phụng.

Bộ môn nghệ thuật Cải lương trong miền Nam là sự kế thừa của ca nhạc tài tử, mà "ca ra bộ" là cầu nối giữa ca nhạc tài tử và sân khấu ca kịch Cải lương. Cuối thế kỷ XVIII bước sang đầu thế kỷ XIX, ca nhạc tài tử đã trở thành phong trào đờn ca tài tử khắp Nam bộ, với những nhạc sỹ, quan nhạc lúc bấy giờ như Nguyễn Đăng Đại, Phạm Đăng Đàn, Nguyễn Liên Phong, Nguyễn Tòng Bá, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Cư, Trần Quang Thọ (ông cố nội của GS. TS Trẩn Văn Khê)... Sau này có nhạc sỹ Lê Tài Khị (1870-1948), quê ở Bạc Liêu, giỏi nhạc lễ và nhạc tài tử, người xưa gọi là thầy Hai Khị, được giới tài tử miền Tây tôn là Hậu Tổ. Ông là người đầu tiên có công chấn chỉnh, hiệu đính và hệ thống hóa 20 bản Tổ của nhạc tài tử Nam bộ. Những bản này đã được sân khấu cải lương sử dụng rộng rãi.

Một trong những học trò của thày Hai Khị là nhạc sỹ Cao Văn Lầu (1892-1976), là người đã sáng tác bản "Dạ cổ hoài lang" bất hủ, là bản vọng cổ chủ lực của Cải lương lâu nay.


Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

Tiệm chạp phô.

Ảnh Internet.


Ảnh Internet.

Thuở nhỏ gia đình tôi ở khu vực Chợ Lớn, trong một xóm bình dân đủ mọi thành phần xã hội, ngoài cái niềm vui trẻ con chơi khăng, đánh đáo, đánh quay, đá dế... cùng lũ trẻ con hàng xóm, thì có lẽ đám trẻ chúng tôi có thêm niềm vui nho nhỏ nằm ở quán chạp phô của bà Ba Tàu trong xóm. Hễ thỉnh thoảng có ai ai cho một, hai cắc, năm cắc (một, hai hào, năm hào), là tụi nhóc thường hay phóng ngay đến quán chạp phô này mua vài cái bánh.

Như tôi đã viết ở Stt trước, với số tiền cắc, tiền hào như thế đám trẻ con mua được bịch bánh men nho nhỏ, vài cái bánh tai heo, vài bánh tay cùi, hay vài cái bánh chao, gói ô mai, mấy cục xí muội... chúng được đựng trong những cái keo bằng thủy tinh có nắp đậy gọi là cái "thẩu", thế là đã sướng tê người.

Thuở tôi còn nhỏ (cũng đã cả gần sáu chục năm nay), những tiệm bán lặt vặt trong xóm như thế được gọi là tiệm "chạp phô" cần gì cứ đến tiệm chạp phô của bà Ba là có đủ cả, vài loại bánh của trẻ con, nước mắm, nước tương, xì dầu, hũ chao... mà nước mắm, nước tương không phải chỉ bán chai, nhà lỡ hết người lớn sai trẻ con xách cái chén đến mua vài hào cũng được... cho đến mấy quả cà, vài lá dưa muối, củ cải mặn... bánh xà phòng giặt hiệu Cây đàn, bánh xà bông tắm Cô Ba, xị rượu đế Gò Đen... cây kim, sợi chỉ... Cái gì để xài trong nhà cũng có, Ôi thôi hầm bà lằng, đủ cả.

Như tôi đã viết, ngày xưa gọi là tiệm chạp phô, đại khái như bây giờ ta gọi là tiệm tạp hóa. Thực ra "chạp phô" (雜 貨) là âm của người Hoa Quảng Đông, âm Hán Việt là "tạp hóa", tiệm chạp phô hay tiệm tạp hóa là nơi bán đủ mọi thứ háng hóa tạp nhạp, linh tinh như tôi đã mô tả. Nhưng tiệm chạp phô trong xóm của người Hoa ngày xưa nó luộm thuộm lắm chứ không được như mấy tiệm tạp hóa bây giờ.

Hồi tụi tôi còn nhóc tì, cũng hay nói với nhau "mày ăn nói hoảng tiều". là ăn nói lung tung chẳng hiểu cái gì ra cái gì. Thực ra là "quảng tiều" chứ không phải "hoảng tiều", "quảng tiều" ở đây là người Quảng (Quảng Đông) và người Tiều (Triều Châu). Người Quảng Đông và Triều Châu tuy cùng là người Hoa, viết chữ giống nhau nhưng khi nói lại khác nhau, chẳng hạn người Quảng Đông nói "xực phàn" là ăn cơm, thì người Triều Châu nói là "chệch pừng".

Thỉnh thoảng tự nhiên nhớ lại vài ký ức tuổi thơ, cũng hay.

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017

Ông giẳng ông giăng,

Ảnh Internet.

Hôm nay là rằm tháng bảy, còn đúng một tháng nữa là tới Trung thu, đêm qua trời âm u nên không thấy trăng, tự nhiên nhớ tới mấy câu trong bài đồng dao "Ông giẳng ông giăng" của thời còn trẻ con:

Ông giẳng ông giăng
Xuống chơi với tôi
Có nồi cơm nếp
Có đệp bánh chưng
......

Thử vào mấy trang mạng để xem tiếp thì thấy bài đồng dao này có một số dị bản (điều bình thường nơi những bài đồng dao, dân ca), chẳng hạn như:

Ông giẳng ông giăng,
Xuống chơi với tôi,
Có bầu có bạn,
Có ván cơm xôi,
Có nồi cơm nếp,
Có nệp bánh chưng,

Thấy đại đa số các nơi viết là "có nệp bánh chưng", "nệp" chứ không phải "đệp" như tôi nhớ, cũng có nơi viết là "ệp", hoặc "nẹp". Thực sự chữ "đệp", "nệp", hoặc "ệp", "nẹp"... trong bài đồng dao xưa nay tôi cũng không hiểu nghĩa là gì, có lẽ nhớ nhầm, nhưng hay thắc mắc về chữ nghĩa nên tôi thử lật sách.

Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) không thấy chữ "nệp", có lẽ từ "nệp" là từ xưa của miền Bắc cho nên từ điển ngày nay không ghi nhận?

Thử giở Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, cũng không thấy từ "nệp" luôn. Lật sang chữ "đệp" xem sao, thấy ghi:

- Đệp. Một thứ đồ đựng đan bằng tre, bằng nứa: Bắt nhái bỏ đệp (T.ng).

Văn liệu.- Ông giẳng ông giăng. Xuống chơi nhà tôi. Có nồi cơm nếp. Có đệp bánh chưng (câu hát).

Trở lại Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê:

- đệp d. 1. Giỏ đan bằng tre nứa, có hom hoặc có miệng bằng vải như hình cái miệng túi, dùng để đựng cá, cóc, nhái. 2. Đồ đan bằng tre nứa, dùng để dựng các thức dự trữ. Có nồi cơm nếp, có đệp bánh chưng... (cd).

Vậy là đã rõ, câu đồng dao đúng phải là "Có đệp bánh chưng", "đệp" chứ không phải "nệp", hay "nẹp", "ệp". Bánh chưng được đựng trong cái "đệp" đan bằng tre, nứa.

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017




Bàng hoàng - Bàn hoàn.

Tôi đọc trong Kiều: câu 1717, 1718)

Bàng hoàng dở tỉnh dở say,
Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu.

Rồi đọc tiếp (câu 1759, 1760)

Nàng càng giọt ngọc như chan,
Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây.

Chữ "bàn hoàn" thấy lạ, không biết có phải là "bàng hoàng" không? Hay sách in sai?

Thử giở Từ điển truyện Kiều của cụ Đào Duy Anh:

- BÀN HOÀN: Vốn nghĩa là luẩn quẩn, quanh quần không đi được. Dùng theo nghĩa rộng: 1. Quấn quít với nhau. Vd. Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn (câu 2400). 2. Nghĩ quanh nghĩ quẩn. Vd. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn (câu 711); Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây (câu 1760).

- BÀNG HOÀNG: Tâm thần không định, rối loạn.

Giở thêm Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức:

- Bàn-hoàn 盤桓. Băn khoăn, quanh quẩn, quấn quít.

- Bàng-hoàng 彷徨. Nói khi tâm thần rối loạn.

Hán Việt Tân tự điển của Nguyễn Quốc Hùng (Nhà sách Khai Trí Saigon-1975):

- BÀN HOÀN: 盤桓 Vẻ rộng lớn - Quanh co, không tiến lên được - Bối rối bồi hồi, không nói ra được.

- BÀNG HOÀNG: 傍偟 Hoang mang rung động trong lòng.

Hán Việt từ điển trích dẫn:

盤桓 bàn hoàn:

1. Bồi hồi, lưu luyến. 2. Trù trừ, do dự. 3. Ở lại. 4. Vẻ rộng lớn.

傍偟 bàng hoàng. Xem bàng hoàng 彷徨 (viết theo chữ Hán hơi khác nhau chút đỉnh)

1. Bồi hồi, quẩn quanh. 2. Bay quanh, vòng quanh, bàn toàn. 3. Ưu du tự đắc. 4. Đứng ngồi không yên, tâm thần bất định. 5. Chần chừ không quyết. 6. Tên một loài trùng.

Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên):

- bàn hoàn đt (cũ). Nghĩ quanh quẩn không dứt.

- bàng hoàng t. Ở trong trạng thái tinh thần như choáng váng, sững sờ, tâm thần tạm thời bất định.

Qua những quyển tự điển ghi trên ta thấy có hai từ "bàn hoàn" và "bàng hoàng", nghĩa của nó cũng có khi thấy giống, mà cũng có khi thấy khác. Vậy mà hồi nào giờ tôi lại tưởng chỉ có một từ "bàng hoàng".

Đúng là càng đọc càng thấy mình dốt.