Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

Tiệm chạp phô.

Ảnh Internet.


Ảnh Internet.

Thuở nhỏ gia đình tôi ở khu vực Chợ Lớn, trong một xóm bình dân đủ mọi thành phần xã hội, ngoài cái niềm vui trẻ con chơi khăng, đánh đáo, đánh quay, đá dế... cùng lũ trẻ con hàng xóm, thì có lẽ đám trẻ chúng tôi có thêm niềm vui nho nhỏ nằm ở quán chạp phô của bà Ba Tàu trong xóm. Hễ thỉnh thoảng có ai ai cho một, hai cắc, năm cắc (một, hai hào, năm hào), là tụi nhóc thường hay phóng ngay đến quán chạp phô này mua vài cái bánh.

Như tôi đã viết ở Stt trước, với số tiền cắc, tiền hào như thế đám trẻ con mua được bịch bánh men nho nhỏ, vài cái bánh tai heo, vài bánh tay cùi, hay vài cái bánh chao, gói ô mai, mấy cục xí muội... chúng được đựng trong những cái keo bằng thủy tinh có nắp đậy gọi là cái "thẩu", thế là đã sướng tê người.

Thuở tôi còn nhỏ (cũng đã cả gần sáu chục năm nay), những tiệm bán lặt vặt trong xóm như thế được gọi là tiệm "chạp phô" cần gì cứ đến tiệm chạp phô của bà Ba là có đủ cả, vài loại bánh của trẻ con, nước mắm, nước tương, xì dầu, hũ chao... mà nước mắm, nước tương không phải chỉ bán chai, nhà lỡ hết người lớn sai trẻ con xách cái chén đến mua vài hào cũng được... cho đến mấy quả cà, vài lá dưa muối, củ cải mặn... bánh xà phòng giặt hiệu Cây đàn, bánh xà bông tắm Cô Ba, xị rượu đế Gò Đen... cây kim, sợi chỉ... Cái gì để xài trong nhà cũng có, Ôi thôi hầm bà lằng, đủ cả.

Như tôi đã viết, ngày xưa gọi là tiệm chạp phô, đại khái như bây giờ ta gọi là tiệm tạp hóa. Thực ra "chạp phô" (雜 貨) là âm của người Hoa Quảng Đông, âm Hán Việt là "tạp hóa", tiệm chạp phô hay tiệm tạp hóa là nơi bán đủ mọi thứ háng hóa tạp nhạp, linh tinh như tôi đã mô tả. Nhưng tiệm chạp phô trong xóm của người Hoa ngày xưa nó luộm thuộm lắm chứ không được như mấy tiệm tạp hóa bây giờ.

Hồi tụi tôi còn nhóc tì, cũng hay nói với nhau "mày ăn nói hoảng tiều". là ăn nói lung tung chẳng hiểu cái gì ra cái gì. Thực ra là "quảng tiều" chứ không phải "hoảng tiều", "quảng tiều" ở đây là người Quảng (Quảng Đông) và người Tiều (Triều Châu). Người Quảng Đông và Triều Châu tuy cùng là người Hoa, viết chữ giống nhau nhưng khi nói lại khác nhau, chẳng hạn người Quảng Đông nói "xực phàn" là ăn cơm, thì người Triều Châu nói là "chệch pừng".

Thỉnh thoảng tự nhiên nhớ lại vài ký ức tuổi thơ, cũng hay.

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017

Ông giẳng ông giăng,

Ảnh Internet.

Hôm nay là rằm tháng bảy, còn đúng một tháng nữa là tới Trung thu, đêm qua trời âm u nên không thấy trăng, tự nhiên nhớ tới mấy câu trong bài đồng dao "Ông giẳng ông giăng" của thời còn trẻ con:

Ông giẳng ông giăng
Xuống chơi với tôi
Có nồi cơm nếp
Có đệp bánh chưng
......

Thử vào mấy trang mạng để xem tiếp thì thấy bài đồng dao này có một số dị bản (điều bình thường nơi những bài đồng dao, dân ca), chẳng hạn như:

Ông giẳng ông giăng,
Xuống chơi với tôi,
Có bầu có bạn,
Có ván cơm xôi,
Có nồi cơm nếp,
Có nệp bánh chưng,

Thấy đại đa số các nơi viết là "có nệp bánh chưng", "nệp" chứ không phải "đệp" như tôi nhớ, cũng có nơi viết là "ệp", hoặc "nẹp". Thực sự chữ "đệp", "nệp", hoặc "ệp", "nẹp"... trong bài đồng dao xưa nay tôi cũng không hiểu nghĩa là gì, có lẽ nhớ nhầm, nhưng hay thắc mắc về chữ nghĩa nên tôi thử lật sách.

Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) không thấy chữ "nệp", có lẽ từ "nệp" là từ xưa của miền Bắc cho nên từ điển ngày nay không ghi nhận?

Thử giở Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, cũng không thấy từ "nệp" luôn. Lật sang chữ "đệp" xem sao, thấy ghi:

- Đệp. Một thứ đồ đựng đan bằng tre, bằng nứa: Bắt nhái bỏ đệp (T.ng).

Văn liệu.- Ông giẳng ông giăng. Xuống chơi nhà tôi. Có nồi cơm nếp. Có đệp bánh chưng (câu hát).

Trở lại Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê:

- đệp d. 1. Giỏ đan bằng tre nứa, có hom hoặc có miệng bằng vải như hình cái miệng túi, dùng để đựng cá, cóc, nhái. 2. Đồ đan bằng tre nứa, dùng để dựng các thức dự trữ. Có nồi cơm nếp, có đệp bánh chưng... (cd).

Vậy là đã rõ, câu đồng dao đúng phải là "Có đệp bánh chưng", "đệp" chứ không phải "nệp", hay "nẹp", "ệp". Bánh chưng được đựng trong cái "đệp" đan bằng tre, nứa.

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017




Bàng hoàng - Bàn hoàn.

Tôi đọc trong Kiều: câu 1717, 1718)

Bàng hoàng dở tỉnh dở say,
Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu.

Rồi đọc tiếp (câu 1759, 1760)

Nàng càng giọt ngọc như chan,
Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây.

Chữ "bàn hoàn" thấy lạ, không biết có phải là "bàng hoàng" không? Hay sách in sai?

Thử giở Từ điển truyện Kiều của cụ Đào Duy Anh:

- BÀN HOÀN: Vốn nghĩa là luẩn quẩn, quanh quần không đi được. Dùng theo nghĩa rộng: 1. Quấn quít với nhau. Vd. Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn (câu 2400). 2. Nghĩ quanh nghĩ quẩn. Vd. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn (câu 711); Nỗi lòng luống những bàn hoàn niềm tây (câu 1760).

- BÀNG HOÀNG: Tâm thần không định, rối loạn.

Giở thêm Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức:

- Bàn-hoàn 盤桓. Băn khoăn, quanh quẩn, quấn quít.

- Bàng-hoàng 彷徨. Nói khi tâm thần rối loạn.

Hán Việt Tân tự điển của Nguyễn Quốc Hùng (Nhà sách Khai Trí Saigon-1975):

- BÀN HOÀN: 盤桓 Vẻ rộng lớn - Quanh co, không tiến lên được - Bối rối bồi hồi, không nói ra được.

- BÀNG HOÀNG: 傍偟 Hoang mang rung động trong lòng.

Hán Việt từ điển trích dẫn:

盤桓 bàn hoàn:

1. Bồi hồi, lưu luyến. 2. Trù trừ, do dự. 3. Ở lại. 4. Vẻ rộng lớn.

傍偟 bàng hoàng. Xem bàng hoàng 彷徨 (viết theo chữ Hán hơi khác nhau chút đỉnh)

1. Bồi hồi, quẩn quanh. 2. Bay quanh, vòng quanh, bàn toàn. 3. Ưu du tự đắc. 4. Đứng ngồi không yên, tâm thần bất định. 5. Chần chừ không quyết. 6. Tên một loài trùng.

Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên):

- bàn hoàn đt (cũ). Nghĩ quanh quẩn không dứt.

- bàng hoàng t. Ở trong trạng thái tinh thần như choáng váng, sững sờ, tâm thần tạm thời bất định.

Qua những quyển tự điển ghi trên ta thấy có hai từ "bàn hoàn" và "bàng hoàng", nghĩa của nó cũng có khi thấy giống, mà cũng có khi thấy khác. Vậy mà hồi nào giờ tôi lại tưởng chỉ có một từ "bàng hoàng".

Đúng là càng đọc càng thấy mình dốt.



Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2017

Đồn điền.



Đọc sách viết về vùng đất Nam bộ khi xưa ta hay thấy từ "đồn điền", đồn điền bắt đầu phổ biến vào khoảng cuối thế kỷ XVIII đời chúa Nguyễn Ánh. Đây là một mô hình kết hợp giữa việc binh bị và sản xuất nông nghiệp.

Đồn điền gồm 2 chữ hợp lại, "đồn" 屯 có nghĩa là nơi đóng quân (đồn binh), "điền" 田 có nghĩa là "ruộng đất". Năm 1790 sau khi thu phục được đất Gia Định, lập kinh thành Gia Định có quy mô như một kinh đô, để có thể đối đầu lâu dài với nhà Tây Sơn, Đại Nam Thực lục chép Nguyễn Ánh "Bắt đầu đặt đồn điền":

"Vua dụ cho các quan văn giai rằng:"Đạo trị nước, trước hết phải cho đủ ăn. Nếu thóc nhiều của thừa thì việc gì chẳng nên? Bốn dinh Gia Định đất đai rất rộng. Trước kia việc quân chưa xong, đói kém xảy ra luôn, đến nỗi ruộng vườn bỏ hoang, dân chưa ra sức việc nông, của nước lương quân còn chưa đầy đủ. Đồn điền là phép hay đời xưa, nay muốn cử hành mà chưa nắm được chỗ cốt yếu. Các khanh vốn có mưu xa kinh quốc, ở vị mình tất phải tính việc mình, đều nên điều trần quy thức, viết thành lập riêng tiến trình, trẫn sẽ chọn những điều hay mà đem thi hành".. Rồi ra lệnh cho các đội túc trực và các vệ thuyền dinh Trung quân ra vỡ ruộng ở Vàm Cỏ, đặt tên là trại Đồn Điền, cấp cho trâu bò điền khí và thóc ngô đậu giống. Đến ngày thâu hoạch đem hết về kho (tức kho Chừ Tích, sau đổi làm kho Đồn Điền). Lấy cai cơ hiệu Tiền dực là Nguyễn Bình trông coi việc ấy.

Lại hạ lệnh cho các nha văn võ mộ người lập các đội nậu đồn điền, hằng năm thu thóc sưu mỗi người 6 hộc. Dân thực nạp ai mộ được 10 người trở lên thì cho làm cai trại và rút tên khỏi sổ của thôn".

Bắt đầu từ năm 1791 Nguyễn Ánh cho lập thêm nhiều mô hình đồn điền ở các đạo Long Xuyên, Ba Thắc, Trà Vinh, Bà Rịa, đến năm 1793 ở đạo Kiên Giang cũng đã lập đồn điền.

Đấy là đồn điền của chúa Nguyễn Ánh. Sau này thời Pháp thuộc, người Pháp cũng lập nên những nơi gọi là đồn điền, phổ biến trồng cây cao su gọi là "đồn điền cao su", những đồn điền cao su này mô hình không giống như đồn điền thời nhà Nguyễn.

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2017

Chuyện Sài Gòn xưa: Kinh thành Gia Định.

Thành Quy. Ảnh Internet.

Bản đồ Sài Gòn năm 1815 nơi vị trí của thành Quy. Ảnh Internet.

Rảnh rỗi lấy mấy quyển sách đã mua lâu nay ra xem lại (tôi có cái tật nhiều khi sách mua không đọc ngay hoặc không đọc một lúc hết quyển sách, mà có khi để đó rồi quên, hay đọc theo kiểu lai rai, giở sách ra xem mục lục, đoạn nào thấy hay đọc trước). Trong một quyển sách viết về Sài Gòn (Sài Gòn Xưa & Nay), bài của tác giả Nguyễn Đình Đầu có tiêu đề là "Địa danh Gia Định" có đoạn viết:

"Địa danh Gia Định đã xuất hiện từ 300 năm qua, nhưng khi là phủ, là tỉnh, là toàn xứ Nam bộ, lại chỉ định những địa bàn hành chính rất khác nhau. Thật là phức tạp, chúng ta cần xem xét".

..............

Gia Định kinh từ năm 1790 đến năm 1802:

Sau khi thâu hồi đất Gia Định, Nguyễn Ánh cho xây thành Bát Quái* rộng lớn theo cách bố phòng Vauban**, định hướng phong thổ Á Đông, theo mỹ thuật dân tộc Việt Nam và mệnh danh là Gia Định kinh.

Gia Định trấn từ năm 1802 đến năm 1808:

Năm 1802 Nguyễn Ánh thâu phục kinh thành Phú Xuân, rồi lên ngôi và lấy đế hiệu Gia Long bèn hạ cấp Gia Định kinh xuống thành Gia Định trấn thành. Cải tên phủ Gia Định làm tên trấn Gia Định và đặt "trấn quan" để cai quản cả ngũ trấn là: trấn Phiên An, trấn Biên Hòa, trấn Định Tường, trấn Vĩnh Long, trấn Hà Tiên.

..............

Trong sách sử Đại Nam thực lục của triều Nguyễn có ghi:

"Ngày Kỷ sửu (Tháng 3, Canh tuất, năm thứ 11 [1790] [Thanh - Càn Long năm thứ 55]), đắp thành đất Gia Định. Vua thấy thành cũ ở thôn Tân Khai chật hẹp, bàn mở ộng thêm. Dụ rằng: "Vương công giữ nước, tất phải đặt nơi hiểm yếu trước. Nay đất Gia Định mới thu phục, cần phải sửa thành trì cho bền vững để chỗ ở được vững mạnh". Bấy giờ mới huy động quân dân để khởi đắp, hẹn trong mười ngày đắp xong. Thành đắp theo kiểu bát quái, mở tám cửa, ở giữa là cung điện, bên tả dựng nhà Thái miếu***, phía sau miếu là kho tàng, bên hữu đặt cục Chế tạo, chung quanh là nhà tranh cho quân túc vệ ở. Giữa sân dựng kỳ đài ba tầng, trên là tòa vọng đẩu bát giác, ban ngày kéo cờ, ban đêm thì kéo đèn làm hiệu cho các quân. Thành xong, gọi tên là kinh thành Gia Định. Thưởng cho dân quân hơn 7000 quan tiền".

Gọi tên là thành Bát Quái vì thành có 8 cửa, Đại Nam thực lục chép:

"Tám cửa thành đều xây bằng đá ong, phía nam là cửa Càn Nguyên và cửa Ly Minh, phía bắc là cửa Khôn Hậu và cửa Khảm Hiểm (Đại Nam nhất thống chí ghi là cửa Địa Hiểm), phía đông là cửa Chấn Hanh và cửa Cấn Chỉ, phía tây là cửa Tốn Thuận và cửa Đoài Nguyệt (Đại Nam nhất thống chí ghi Đoài Duyệt). Ngang dọc có tám đường, đông sang tây dài 131 trượng 2 thước, nam sang bắc cũng thế, cao 13 thước, chân dày 7 trượng 5 thước. Phía ngoài thành là hào, hào rộng 10 trượng 5 thước, sâu 14 thước có cầu treo bắc ngang. Chu vi ngoài thành là 794 trượng. Ở ngoài là đường phố chợ búa, dọc ngang la liệt đều có thứ tự, hai bên đường quan đều trồng cây thích nghi, gọi là đường thiên lý".

Những quyển sách sử khác cũng của triều Nguyễn là Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí cũng cho ta biết thêm những chi tiết của kinh thành Gia Định. Trong thành có kho bạc, kho đồn điền, trại súng, kho thuốc súng. Ngoài thành có xưởng Chu sư (xưởng thủy quân đóng ghe thuyền, chiến hạm) ở phìa đông, cách một dặm theo bờ sông Tân Bình (khu vực sau này là xưởng Ba Son). Ngoài thành cũng còn có Xưởng voi nuôi và huấn luyện voi chiến, cách thành một dặm có Sứ quán, trường Diễn Võ cách thành 10 dặm về phía tây nam. Tuy kinh thành Gia Định chưa phải là một kinh đô chính thức với ý nghĩa là nơi vua ở vì lúc ấy Nguyễn Ánh chưa lên ngôi vua, nhưng với vị thế lúc bấy giờ, và với quy mô như sách sử đã cho biết thì kinh thành Gia Định không khác gì một kinh đô.

Sau nhiều năm bị quân Tây Sơn của anh em Nguyễn Huệ đánh tan tác, có lúc phải bôn tẩu ra những hải đảo xa xôi hoặc chạy sang tận nước Xiêm, thì thời gian này lợi dụng tình hình đối đầu giữa anh em Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ (1787), và việc Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh, rồi đánh tan quân Thanh (cuối 1788 đầu 1789), Nguyễn Ánh đã củng cố binh lực ở miền Nam, lập kinh thành Gia Định để đối đầu với kinh đô Phú Xuân của Nguyễn Huệ (Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế vào ngày 25 tháng 11 năm Mậu thân [22-12-1788], đóng đô ở Phú Xuân). Cho đến thắng lợi cuối cùng vào năm 1802, thống nhất đất nước về một cõi.


Ghi chú:

* Thành Bát Quái: với quy mô như đã mô tả trong Đại Nam thực lục, thành Bát Quái còn gọi là thành Qui vì hình dạng trông giống như con rùa, theo như ngày nay nằm lọt khoảng giữa 4 con đường: đường Đinh Tiên Hoàng phía đông, Nam Kỳ Khởi Nghĩa phía tây, Nguyễn Đình Chiểu phía bắc, nói thành đắp bằng đất thực ra còn xây bằng đá ong Biên Hòa và gạch rất chắc chắn, vữa xây bằng mật mía, việc xây dựng này Nguyễn Ánh đã phải huy động tới 30.000 dân quân. Năm 1833 dưới triều vua Minh Mạng Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm thành Quy, cuộc nổi dậy kéo dài trong 3 năm sau khi Lê Văn Khôi bị bệnh mất thì thành thất thủ. Vua Minh Mạng lện cho phá hủy thành, xây lại thành mới với quy mô nhỏ hơn gọi là thành Phụng.

** Vauban: tên thật Sébastien Le Prestre (1633-1707), Lãnh chúa xứ Vauban, được phong là Hầu tước xứ Vauban, là Thống chế, một kỹ sư quân sự lừng danh, nổi tiếng nhờ những công trình phòng thủ công sự, cũng như cách đánh chọc thủng phòng tuyến công sự.

*** Thái miếu: Thái miếu hay Thái Tổ miếu ở kinh thành Gia Định cũng như ở kinh đô Huế sau này, là nơi thờ các vị chúa Nguyễn.


Tham khảo:

- Những sách đã dẫn.

Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017


Ảnh Internet.

Ta thường hiểu từ "Chủ tịch" là người đứng đầu một tổ chức, một đảng phái, như ở Việt Nam để gọi người đứng đầu quốc gia, đứng đầu quốc hội, hay đứng đầu một cấp chính quyền, mà không để ý nghĩa gốc của từ là gì? Hôm nay, tình cờ đọc lại quyển "Văn minh vật chất của người Việt" của Phan Cẩm Thượng*, thấy ông viết:

"Cái chiếu phổ biến đến mức nó trở thành khái niệm tượng trưng, xác định vị thế xã hội của con người. Người ta gọi là hộ tịch, tức là góc chiếu của gia đình và cá nhân nào đó, trong đó hộ là cái cửa nhà, cái nhà, còn tịch là cái chiếu. Người đứng đầu gọi là chủ tịch, những người khác gọi là tịch viên... Ra đình bạn sẽ được ngồi xếp bằng trên một góc chiếu, đó là vị thế của bạn. Có chiếu trên chiếu dưới phân cấp. Chiếu trên thì gần bàn thờ Thánh, càng xa bàn thờ thì càng là chiếu thấp, thấp nữa là chiếu ngoài sân đình. Riêng những người làm mõ thì ngồi chiếu riêng, ăn mâm riêng được coi là những người hạ đẳng xuất thân từ dân ngụ cư".

Đọc đoạn văn trên thật thú vị, từ chủ tịch trong tiếng Hán được viết như sau 主席, chủ (主) là từ thông dụng, dễ hiểu, có nghĩa là người đứng đầu, người lãnh đạo, còn tịch (席) thì bản thân chữ tịch (席) này có nhiều nghĩa, và nghĩa đầu tiên của nó là cái chiếu. Ngày xưa mọi sinh hoạt của làng xã đều diễn ra nơi đình làng, từ hội họp bàn chuyện làng chuyện nước, đến cúng tế, lễ bái, ăn uống... Thời ấy chưa có lệ ngồi bàn ghế, chỉ trải chiếu xuống đất, chiếu được trải xuống trước bàn thờ để người chủ tế làm lễ trên chiếu, phía sau người chủ tế là những chiếc chiếu khác dành cho các chức sắc trong làng, rồi đến người dân đến tham dự buổi cúng tế, cúng tế xong thì những chiếc chiếu này trở thành nơi bày mâm đĩa tiệc tùng, mọi người cứ việc ngồi xếp bằng tròn trên chiếu mà đánh chén.

Và ta cũng thấy, tùy theo vị trí của chiếu mà phân định thứ hạng trong làng, quan viên, kỳ mục, bô lão... thì ngồi "chiếu trên", gần nơi bàn thờ Thánh, dân thường thì ngồi "chiếu dưới" ở xa hơn, còn những người làm mõ (ngày xưa thường gọi bằng từ không tôn trọng là "thằng mõ") thì ngồi chiếu tuốt ngoài sân đình...

* Văn minh vật chất của người Việt, Phan Cẩm Thượng, NXB Tri Thức-2015.

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

Ý nghĩa một số từ thường gặp trong Phật giáo (2).



- Già lam 伽 藍: S: samgha-ārāma, tiếng gọi tắt của Tăng già lam ma, có nghĩa là "khu vườn của chúng tăng", "chủng viện", chùa hay tu viện của Phật giáo.

- Giác ngộ 覺 悟: S, P: bodhi. Nghĩa là "hiểu ra", trong Phật giáo là thuật ngữ chỉ trạng thái tỉnh thức lúc con người trực nhận được tính. Giác ngộ là kinh nghiệm của bản thân không thể giải bày.

- Hành cước 行 腳: đi chu du các nơi, có thể là để tìm thày học đạo.

- Hộ pháp 護 法: S: dharmapāla, P: dhammapāla. Người bảo vệ chánh pháp.

- Kệ 偈: S, P: gāthā, gọi đầy đủ là kệ đà, là những bài ca, bài thơ chứng đạo của những tỳ kheo, thiền sư.

- Kim cương thừa 金 剛 乘: S: vajrayāna, một trường phái Phật giáo của Đại Thừa xuất hiện tại miền Bắc Ấn Độ khoảng thế kỷ thứ V, VI và được truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản. Kim Cương Thừa thêm những phương pháp tu tập có tính chất huyền bí, bí truyền.

- Kinh 經: S: sutra, P: sutta, còn gọi là Khế Kinh. Tên để gọi các bài giảng của Đức Phật, gọi chung là Kinh Tạng.

- La Hán 羅 漢: S: arhat, viết rút gọn của A La Hán, người tu Phật xuất gia đã dứt phiền não, là Thánh quả cao nhất của Phật giáo nguyên thủy. Để chỉ 18 vị tu hành đã đạt chánh quả thường thấy tượng trong các chùa.

- Luân hồi 輪 迴: S, P: samsāra, nguyên nghĩa Phạn ngữ là lang thang, trôi nổi. Hán tự luân: bánh xe, hồi: trở về. Kiếp chúng sanh như bánh xe quay mãi không dứt trong Lục đạo.

- Lục căn 六 根: chỉ 6 giác quan, Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý.

- Lục đạo 六 道: S: sadakula. sáu đường tái sinh trong luân hồi gồm 3 thiện đạo và 3 ác đạo: Thiện đạo: Cõi người - Cõi Thiên - Cõi A Tu La. Ác đạo: Ngạ quỷ - Địa ngục - Súc sanh.

- Lục tặc 六 賊: Sáu "kẻ cướp" nơi Lục căn thường đem lại phiền não.

- Man-đà-la: S: mandala, nguyên nghĩa là vòng tròn, vòng cung. Một biểu tượng quan trọng của Phật giáo Tây Tạng về năng lực vũ trụ được thể hiện bằng tranh vẽ.

- Mạt Pháp: 末 法: Thời cuối cùng của Phật pháp (gồm 3 thời kỳ Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp).

- Ngã 我: S: ātman. P: atta. Ta, tôi. Đâo Phật chủ trương không có cái ta (vô ngã), người cũng như mọi sinh vật khác chỉ là do ngũ uẩn hợp lại

- Nghiệp 業: S: karma, P: kamma. Có nghĩa là hành động, việc làm, có nghiệp lành (thiện nghiệp, nghiệp dữ (ác nghiệp). Nghiệp rất quan trọng trong Phật giáo, kinh Trung bộ viết: Người là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp.

- Ngũ giới 五 戒: S: P: panca-sila, năm điều cấm đối với người tu tại gia theo đạo Phật: sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói bậy, uống rượu.

- Ngũ uẩn 五 蘊: S: panca-skandha, P: panca-khandha. Gồm: Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức, năm thứ hợp lại thành chúng sanh.

- Phạm Thiên 梵 天: S: brahma-loka. Các cõi trời không còn lòng dục, chúng sinh ở đây không cần ăn uống và không có giới tính. Để chỉ một vị thàn được xem như thần Hộ pháp trong Phật giáo.

- Quy y 歸 依: về với, nương tựa, Quy y Tam bảo, về với Tam bảo, nương tựa vào Tam bảo (Phật - Pháp - Tăng).

- Sa di 沙 彌: S: srāmanera, P: sāmanera. Tiểu tăng, tiểu sa môn.

- Sát na 剎 那: S: ksana. Một khoảng thời gian rất ngắn, một đơn vị thời gian của một niệm, một ý nghĩ.

- Ta bà thế giới, Sa bà thế giới 娑 婆 世 界: S: sahalokadhātu. Cõi người, thế giới nơi con người ở.

- Tam bảo 三 寶: S: triratna, P: tiratana. Ba ngôi báu trong Phật giáo: Phật - Pháp - Tăng.

- Thập mục ngưu đồ 十 牧 牛 圖: Mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng trong Thiền tông của Phật giáo Đại thừa.

- Tì kheo (Tì khâu): S: bhiksu, P: bikkhul. Phiên âm từ Phạn ngữ và tiếng Pali, có nghĩa là "người khất thực", trong Phật giáo để gọi một tăng sĩ xuất gia sống bằng hạnh khất thực tìm chân lý giải thoát.

- Ưu bà di 優 婆 夷: S: P: upāsikā. Nữ Phật tử tu tại gia.

- Ưu bà tắc 優 婆 塞: S: upāsaka. Nam Phật tử tu tại gia.

- Vãng sanh 往 生: Chết, tái sinh, đầu thai (vào một cõi).

- Xá lợi (Xá lị) 舍 利: S: sarira. Chỉ chung những gì còn sót lại sau khi thiêu thân Phật, hoặc các bậc đắc đạo.

Tham khảo:
- Từ điển Phật học Việt Nam, Thích Minh Châu, Minh Chi, NXB Khoa Học Xã Hội-1991.
- Phật học từ điển, Đoàn Trung Còn, NXB TP. HCM-1997.
- Từ điển Phật học, Ban biên dịch Đạo Uyển, Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách, Thích Nhuận Châu, NXB Thời Đại-2011.

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

Ý nghĩa một số từ thường gặp trong Phật giáo.



- A-di-đà 阿 彌 陀: dịch âm từ chữ "amita", S: "amitābha" và "amitāyus". amitābha nghĩa là Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng, Amitāyus là Vô Lượng Thọ, là thọ mệnh vô lượng. A-di-đà là giáo chủ của cõi Cực lạc ("sukhāvatī") ở phương Tây. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Phật giáo Đại Thừa (Tịnh độ tông) tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí huệ.

- A-la-hán 阿 欏 漢: S: arhat, P: arahat, arahant, dịch nghĩa là Sát Tặc (diệt hết giặc phiền nào), là danh từ chỉ một thánh nhân, người đã diệt hết phiền não, là hiện thân của sự giác ngộ.

- A-nan-đà 阿 難 陀: S: ānanda, dịch nghĩa là Khánh Hỉ, Hoan Hỉ, là một trong mười đại đệ tử của Phật, cùng họ, là người hầu cận bên Phật. Người nổi tiếng với trí nhớ phi thường, Tôn giả là người xây dựng cơ bản giáo pháp trong lần kết tập thứ nhất sau khi Phật diệt độ, được xem là Nhị Tổ của Thiền Tông Ấn Độ.

- A-tỳ 阿 鼻: S: avichi, địa ngục khổ nhất trong tám tầng địa ngục, đọa vào đây chúng sinh phải liên tục chịu mọi cực hình.

- A-tu-la 阿 修 羅: S: āsura, nghĩa là Thần, Phi Thiên, nhưng hình thể, tính tình không đoan chính

- Bồ-đề 菩 提: S, P: bodhi, nghĩa là Tỉnh Thức, Giác Ngộ.

- Bồ-đề Đạt-ma 菩 提 達 摩: S: bodhidharma, dịch nghĩa là Đạo Pháp, Tổ thứ 28 của Tiền Tông Ấn Độ, là Sơ Tổ của Thiền Tông Trung Hoa.

- Bồ-tát 菩 薩: Viết tắt của Bồ-đề Tát-đóa, S: bodhisattva, P: bodhisatta. , nguyên nghĩa là "Giác hữu tình", cũng được dịch là Đại Sĩ, là bậc đã đắc quả Phật nhưng nguyện không vào niết bàn để độ cho chúng sanh.

- Bụt: S, P: buddha, dịch âm của Buddha (Phật, Phật Đà). Nghĩa là bậc Giác Ngộ, trong những câu truyện cổ tích dân gian Bụt cũng còn được hiểu như ông Tiên.

- Cấp Cô Độc 給 孤 獨: S, P: anāthapindika, còn gọi là Tu Đạt Đa. Trưởng giả ở Xá Vệ sống cùng thời với Đức Phật, người đã bỏ tiền ra mua khu vườn Kỳ Viên cúng dường Đức Phật và Tăng già, ông cũng là người thường xuyên cấp dưỡng cho những người nghèo, cô độc.

- Công án 公 案: nghĩa gốc là một án công khai, quyết định phải trái nơi quan phủ. Thuật ngữ quan trọng của Thiền Tông, có thể là một đoạn kinh, một bài kệ, một câu chuyện về giác ngộ, một cuộc đàm thoại, vấn đáp hay một cuộc pháp chiến. Công án không phải là một câu đố vì không thể giải đáp bằng lý luận, muốn hiểu một công án phải qua các cấp độ khác nhau của nhận thức.

- Di Lặc 彌 勒: S: maitreya, P: metteyya, , cũng có tên là Vô Năng Thắng. Một vị đại Bồ Tát và cũng là vị Phật thứ năm và cuối cùng xuất hiện trên trái đất, được thờ cúng trong Phật giáo Đại Thừa.

- Du già 瑜 伽: S, P: yoga, nguyên nghĩa là "tự đặt mình dưới cái ách", là phương pháp đề đạt, tiếp cận, thống nhất với Tuyệt đối, Thượng đế.

- Dược Sư Phật 藥 師 佛: S: bhaisajyaguru-buddha, tên gọi đầy đủ là Dược Sư Lưu Ly Quang Phật. Vị Phật đại diện cho sự trọn vẹn của Phật quả, ngài ngự ở cõi phía đông Tịnh Độ. Tranh tượng thường thể hiện tay trái cầm cây cỏ thuốc chữa bệnh, tay phải giữ ấn thí nguyện.

- Đại tạng kinh 大 藏 經: danh từ để chỉ kinh sách Phật giáo, có ba tạng là Kinh Tạng 經 藏, Luật Tạng 律 藏 và Luận Tạng 論 藏. Đặc điểm của Kinh Tạng 經 藏 là bắt đầu vào bài kinh bằng những từ "Như thị ngã văn" (Tôi nghe như vậy).

- Đạo 道: nguyên nghĩa là Con đường, nhưng trong tôn giáo Đạo được hiểu là "Giáo lý", "Chân lý".

- Đạt Lai Lạt Ma 達 賴 喇 嘛: có nghĩa là "đạo sư với trí huệ như biển cả". Danh hiệu của nhà vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng của trường phái Cách Lỗ (Hoàng giáo) năm 1578. Kể từ năm 1617, Đạt Lai lạt Ma đời thứ 5 trở thành người lãnh đạo chính trị và tinh thần của nhân dân Tây Tạng. Ngườita xem Đạt Lai Lạt Ma là hiện thân của Quán Thế Âm. Mỗi một Đạt Lai Lạt ma được xem như tái sinh của vị Lạt Ma trước.

- Địa Tạng 地 藏: Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Địa ngục và trẻ con yểu tử, cũng được xem là chuyên cứu giúp người lữ hành phương xa. Trong Phật giáo Đại Thừa, Địa Tạng là một trong bốn vị đại Bồ Tát (Địa Tạng, Quán Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền).

- Đốn ngộ 頓 悟: ngộ ngay lập tức, ngay bây giờ, trái với Tiệm ngộ, được Nam Tông thiền chủ Huệ Năng chủ trương.

(Còn tiếp)


Tham khảo:

- Từ điển Phật học Việt Nam, Thích Minh Châu, Minh Chi, NXB Khoa Học Xã Hội-1991.

- Phật học từ điển, Đoàn Trung Còn, NXB TP. HCM-1997.

- Từ điển Phật học, Ban biên dịch Đạo Uyển, Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách, Thích Nhuận Châu, NXB Thời Đại-2011.