Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017


Ảnh Internet.

Ta thường hiểu từ "Chủ tịch" là người đứng đầu một tổ chức, một đảng phái, như ở Việt Nam để gọi người đứng đầu quốc gia, đứng đầu quốc hội, hay đứng đầu một cấp chính quyền, mà không để ý nghĩa gốc của từ là gì? Hôm nay, tình cờ đọc lại quyển "Văn minh vật chất của người Việt" của Phan Cẩm Thượng*, thấy ông viết:

"Cái chiếu phổ biến đến mức nó trở thành khái niệm tượng trưng, xác định vị thế xã hội của con người. Người ta gọi là hộ tịch, tức là góc chiếu của gia đình và cá nhân nào đó, trong đó hộ là cái cửa nhà, cái nhà, còn tịch là cái chiếu. Người đứng đầu gọi là chủ tịch, những người khác gọi là tịch viên... Ra đình bạn sẽ được ngồi xếp bằng trên một góc chiếu, đó là vị thế của bạn. Có chiếu trên chiếu dưới phân cấp. Chiếu trên thì gần bàn thờ Thánh, càng xa bàn thờ thì càng là chiếu thấp, thấp nữa là chiếu ngoài sân đình. Riêng những người làm mõ thì ngồi chiếu riêng, ăn mâm riêng được coi là những người hạ đẳng xuất thân từ dân ngụ cư".

Đọc đoạn văn trên thật thú vị, từ chủ tịch trong tiếng Hán được viết như sau 主席, chủ (主) là từ thông dụng, dễ hiểu, có nghĩa là người đứng đầu, người lãnh đạo, còn tịch (席) thì bản thân chữ tịch (席) này có nhiều nghĩa, và nghĩa đầu tiên của nó là cái chiếu. Ngày xưa mọi sinh hoạt của làng xã đều diễn ra nơi đình làng, từ hội họp bàn chuyện làng chuyện nước, đến cúng tế, lễ bái, ăn uống... Thời ấy chưa có lệ ngồi bàn ghế, chỉ trải chiếu xuống đất, chiếu được trải xuống trước bàn thờ để người chủ tế làm lễ trên chiếu, phía sau người chủ tế là những chiếc chiếu khác dành cho các chức sắc trong làng, rồi đến người dân đến tham dự buổi cúng tế, cúng tế xong thì những chiếc chiếu này trở thành nơi bày mâm đĩa tiệc tùng, mọi người cứ việc ngồi xếp bằng tròn trên chiếu mà đánh chén.

Và ta cũng thấy, tùy theo vị trí của chiếu mà phân định thứ hạng trong làng, quan viên, kỳ mục, bô lão... thì ngồi "chiếu trên", gần nơi bàn thờ Thánh, dân thường thì ngồi "chiếu dưới" ở xa hơn, còn những người làm mõ (ngày xưa thường gọi bằng từ không tôn trọng là "thằng mõ") thì ngồi chiếu tuốt ngoài sân đình...

* Văn minh vật chất của người Việt, Phan Cẩm Thượng, NXB Tri Thức-2015.

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

Ý nghĩa một số từ thường gặp trong Phật giáo (2).



- Già lam 伽 藍: S: samgha-ārāma, tiếng gọi tắt của Tăng già lam ma, có nghĩa là "khu vườn của chúng tăng", "chủng viện", chùa hay tu viện của Phật giáo.

- Giác ngộ 覺 悟: S, P: bodhi. Nghĩa là "hiểu ra", trong Phật giáo là thuật ngữ chỉ trạng thái tỉnh thức lúc con người trực nhận được tính. Giác ngộ là kinh nghiệm của bản thân không thể giải bày.

- Hành cước 行 腳: đi chu du các nơi, có thể là để tìm thày học đạo.

- Hộ pháp 護 法: S: dharmapāla, P: dhammapāla. Người bảo vệ chánh pháp.

- Kệ 偈: S, P: gāthā, gọi đầy đủ là kệ đà, là những bài ca, bài thơ chứng đạo của những tỳ kheo, thiền sư.

- Kim cương thừa 金 剛 乘: S: vajrayāna, một trường phái Phật giáo của Đại Thừa xuất hiện tại miền Bắc Ấn Độ khoảng thế kỷ thứ V, VI và được truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản. Kim Cương Thừa thêm những phương pháp tu tập có tính chất huyền bí, bí truyền.

- Kinh 經: S: sutra, P: sutta, còn gọi là Khế Kinh. Tên để gọi các bài giảng của Đức Phật, gọi chung là Kinh Tạng.

- La Hán 羅 漢: S: arhat, viết rút gọn của A La Hán, người tu Phật xuất gia đã dứt phiền não, là Thánh quả cao nhất của Phật giáo nguyên thủy. Để chỉ 18 vị tu hành đã đạt chánh quả thường thấy tượng trong các chùa.

- Luân hồi 輪 迴: S, P: samsāra, nguyên nghĩa Phạn ngữ là lang thang, trôi nổi. Hán tự luân: bánh xe, hồi: trở về. Kiếp chúng sanh như bánh xe quay mãi không dứt trong Lục đạo.

- Lục căn 六 根: chỉ 6 giác quan, Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý.

- Lục đạo 六 道: S: sadakula. sáu đường tái sinh trong luân hồi gồm 3 thiện đạo và 3 ác đạo: Thiện đạo: Cõi người - Cõi Thiên - Cõi A Tu La. Ác đạo: Ngạ quỷ - Địa ngục - Súc sanh.

- Lục tặc 六 賊: Sáu "kẻ cướp" nơi Lục căn thường đem lại phiền não.

- Man-đà-la: S: mandala, nguyên nghĩa là vòng tròn, vòng cung. Một biểu tượng quan trọng của Phật giáo Tây Tạng về năng lực vũ trụ được thể hiện bằng tranh vẽ.

- Mạt Pháp: 末 法: Thời cuối cùng của Phật pháp (gồm 3 thời kỳ Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp).

- Ngã 我: S: ātman. P: atta. Ta, tôi. Đâo Phật chủ trương không có cái ta (vô ngã), người cũng như mọi sinh vật khác chỉ là do ngũ uẩn hợp lại

- Nghiệp 業: S: karma, P: kamma. Có nghĩa là hành động, việc làm, có nghiệp lành (thiện nghiệp, nghiệp dữ (ác nghiệp). Nghiệp rất quan trọng trong Phật giáo, kinh Trung bộ viết: Người là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp.

- Ngũ giới 五 戒: S: P: panca-sila, năm điều cấm đối với người tu tại gia theo đạo Phật: sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói bậy, uống rượu.

- Ngũ uẩn 五 蘊: S: panca-skandha, P: panca-khandha. Gồm: Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức, năm thứ hợp lại thành chúng sanh.

- Phạm Thiên 梵 天: S: brahma-loka. Các cõi trời không còn lòng dục, chúng sinh ở đây không cần ăn uống và không có giới tính. Để chỉ một vị thàn được xem như thần Hộ pháp trong Phật giáo.

- Quy y 歸 依: về với, nương tựa, Quy y Tam bảo, về với Tam bảo, nương tựa vào Tam bảo (Phật - Pháp - Tăng).

- Sa di 沙 彌: S: srāmanera, P: sāmanera. Tiểu tăng, tiểu sa môn.

- Sát na 剎 那: S: ksana. Một khoảng thời gian rất ngắn, một đơn vị thời gian của một niệm, một ý nghĩ.

- Ta bà thế giới, Sa bà thế giới 娑 婆 世 界: S: sahalokadhātu. Cõi người, thế giới nơi con người ở.

- Tam bảo 三 寶: S: triratna, P: tiratana. Ba ngôi báu trong Phật giáo: Phật - Pháp - Tăng.

- Thập mục ngưu đồ 十 牧 牛 圖: Mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng trong Thiền tông của Phật giáo Đại thừa.

- Tì kheo (Tì khâu): S: bhiksu, P: bikkhul. Phiên âm từ Phạn ngữ và tiếng Pali, có nghĩa là "người khất thực", trong Phật giáo để gọi một tăng sĩ xuất gia sống bằng hạnh khất thực tìm chân lý giải thoát.

- Ưu bà di 優 婆 夷: S: P: upāsikā. Nữ Phật tử tu tại gia.

- Ưu bà tắc 優 婆 塞: S: upāsaka. Nam Phật tử tu tại gia.

- Vãng sanh 往 生: Chết, tái sinh, đầu thai (vào một cõi).

- Xá lợi (Xá lị) 舍 利: S: sarira. Chỉ chung những gì còn sót lại sau khi thiêu thân Phật, hoặc các bậc đắc đạo.

Tham khảo:
- Từ điển Phật học Việt Nam, Thích Minh Châu, Minh Chi, NXB Khoa Học Xã Hội-1991.
- Phật học từ điển, Đoàn Trung Còn, NXB TP. HCM-1997.
- Từ điển Phật học, Ban biên dịch Đạo Uyển, Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách, Thích Nhuận Châu, NXB Thời Đại-2011.

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

Ý nghĩa một số từ thường gặp trong Phật giáo.



- A-di-đà 阿 彌 陀: dịch âm từ chữ "amita", S: "amitābha" và "amitāyus". amitābha nghĩa là Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng, Amitāyus là Vô Lượng Thọ, là thọ mệnh vô lượng. A-di-đà là giáo chủ của cõi Cực lạc ("sukhāvatī") ở phương Tây. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Phật giáo Đại Thừa (Tịnh độ tông) tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí huệ.

- A-la-hán 阿 欏 漢: S: arhat, P: arahat, arahant, dịch nghĩa là Sát Tặc (diệt hết giặc phiền nào), là danh từ chỉ một thánh nhân, người đã diệt hết phiền não, là hiện thân của sự giác ngộ.

- A-nan-đà 阿 難 陀: S: ānanda, dịch nghĩa là Khánh Hỉ, Hoan Hỉ, là một trong mười đại đệ tử của Phật, cùng họ, là người hầu cận bên Phật. Người nổi tiếng với trí nhớ phi thường, Tôn giả là người xây dựng cơ bản giáo pháp trong lần kết tập thứ nhất sau khi Phật diệt độ, được xem là Nhị Tổ của Thiền Tông Ấn Độ.

- A-tỳ 阿 鼻: S: avichi, địa ngục khổ nhất trong tám tầng địa ngục, đọa vào đây chúng sinh phải liên tục chịu mọi cực hình.

- A-tu-la 阿 修 羅: S: āsura, nghĩa là Thần, Phi Thiên, nhưng hình thể, tính tình không đoan chính

- Bồ-đề 菩 提: S, P: bodhi, nghĩa là Tỉnh Thức, Giác Ngộ.

- Bồ-đề Đạt-ma 菩 提 達 摩: S: bodhidharma, dịch nghĩa là Đạo Pháp, Tổ thứ 28 của Tiền Tông Ấn Độ, là Sơ Tổ của Thiền Tông Trung Hoa.

- Bồ-tát 菩 薩: Viết tắt của Bồ-đề Tát-đóa, S: bodhisattva, P: bodhisatta. , nguyên nghĩa là "Giác hữu tình", cũng được dịch là Đại Sĩ, là bậc đã đắc quả Phật nhưng nguyện không vào niết bàn để độ cho chúng sanh.

- Bụt: S, P: buddha, dịch âm của Buddha (Phật, Phật Đà). Nghĩa là bậc Giác Ngộ, trong những câu truyện cổ tích dân gian Bụt cũng còn được hiểu như ông Tiên.

- Cấp Cô Độc 給 孤 獨: S, P: anāthapindika, còn gọi là Tu Đạt Đa. Trưởng giả ở Xá Vệ sống cùng thời với Đức Phật, người đã bỏ tiền ra mua khu vườn Kỳ Viên cúng dường Đức Phật và Tăng già, ông cũng là người thường xuyên cấp dưỡng cho những người nghèo, cô độc.

- Công án 公 案: nghĩa gốc là một án công khai, quyết định phải trái nơi quan phủ. Thuật ngữ quan trọng của Thiền Tông, có thể là một đoạn kinh, một bài kệ, một câu chuyện về giác ngộ, một cuộc đàm thoại, vấn đáp hay một cuộc pháp chiến. Công án không phải là một câu đố vì không thể giải đáp bằng lý luận, muốn hiểu một công án phải qua các cấp độ khác nhau của nhận thức.

- Di Lặc 彌 勒: S: maitreya, P: metteyya, , cũng có tên là Vô Năng Thắng. Một vị đại Bồ Tát và cũng là vị Phật thứ năm và cuối cùng xuất hiện trên trái đất, được thờ cúng trong Phật giáo Đại Thừa.

- Du già 瑜 伽: S, P: yoga, nguyên nghĩa là "tự đặt mình dưới cái ách", là phương pháp đề đạt, tiếp cận, thống nhất với Tuyệt đối, Thượng đế.

- Dược Sư Phật 藥 師 佛: S: bhaisajyaguru-buddha, tên gọi đầy đủ là Dược Sư Lưu Ly Quang Phật. Vị Phật đại diện cho sự trọn vẹn của Phật quả, ngài ngự ở cõi phía đông Tịnh Độ. Tranh tượng thường thể hiện tay trái cầm cây cỏ thuốc chữa bệnh, tay phải giữ ấn thí nguyện.

- Đại tạng kinh 大 藏 經: danh từ để chỉ kinh sách Phật giáo, có ba tạng là Kinh Tạng 經 藏, Luật Tạng 律 藏 và Luận Tạng 論 藏. Đặc điểm của Kinh Tạng 經 藏 là bắt đầu vào bài kinh bằng những từ "Như thị ngã văn" (Tôi nghe như vậy).

- Đạo 道: nguyên nghĩa là Con đường, nhưng trong tôn giáo Đạo được hiểu là "Giáo lý", "Chân lý".

- Đạt Lai Lạt Ma 達 賴 喇 嘛: có nghĩa là "đạo sư với trí huệ như biển cả". Danh hiệu của nhà vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng của trường phái Cách Lỗ (Hoàng giáo) năm 1578. Kể từ năm 1617, Đạt Lai lạt Ma đời thứ 5 trở thành người lãnh đạo chính trị và tinh thần của nhân dân Tây Tạng. Ngườita xem Đạt Lai Lạt Ma là hiện thân của Quán Thế Âm. Mỗi một Đạt Lai Lạt ma được xem như tái sinh của vị Lạt Ma trước.

- Địa Tạng 地 藏: Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Địa ngục và trẻ con yểu tử, cũng được xem là chuyên cứu giúp người lữ hành phương xa. Trong Phật giáo Đại Thừa, Địa Tạng là một trong bốn vị đại Bồ Tát (Địa Tạng, Quán Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền).

- Đốn ngộ 頓 悟: ngộ ngay lập tức, ngay bây giờ, trái với Tiệm ngộ, được Nam Tông thiền chủ Huệ Năng chủ trương.

(Còn tiếp)


Tham khảo:

- Từ điển Phật học Việt Nam, Thích Minh Châu, Minh Chi, NXB Khoa Học Xã Hội-1991.

- Phật học từ điển, Đoàn Trung Còn, NXB TP. HCM-1997.

- Từ điển Phật học, Ban biên dịch Đạo Uyển, Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách, Thích Nhuận Châu, NXB Thời Đại-2011.


Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

Đọc.



Tôi vẫn thường xuyên đọc sách, lai rai đọc, rảnh cứ lấy ra mà đọc ngày dăm bảy trang, cũng như đọc kinh... hay tụng kinh kệ vậy.

Tôi thường mang một quyển sách theo đọc khi ngồi một mình ở quán cà phê, chờ khi chở bà xã đi chợ, đi công chuyện, chờ... khám bệnh, hoặc đưa người nhà đi khám, đấy là thời gian mình có thể đọc được nhiều nhất. Bây giờ tôi thường đọc sách về kiến thức, tra cứu, ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo, hồi ký của những người nổi tiếng... Thời trẻ đọc thiên về tiểu thuyết, truyện dịch... Mỗi thời mỗi khác, cũng như suy nghĩ, mỗi thời, mỗi tuổi ta sẽ có những suy nghĩ khác nhau, thậm chí trái hẳn nhau. Đấy cũng là lẽ thường tinh

Tôi có được một tủ sách kha khá, khá nhiều từ điển các loại, mỗi loại từ điển, chẳng hạn như từ điển tiếng Việt, Hán Việt, lại có nhiều quyển, của nhiều tác giả khác nhau, sách về lịch sử, tôn giáo, về phong tục văn hóa dân gian cũng thế, mỗi khi cần tra cứu một vấn đề gì tôi thường tra trên nhiều sách mình có, tra cả trên mạng, rồi so sánh, nhận xét, đúc kết... Đối với nhiều vấn đề trong cuộc sống, tôi vẫn thường luôn có những câu hỏi tai sao, lý do nào sự việc đó lại xảy ra? mục đích là gì? có gì đúng hay sai trái?

Tôi luôn muốn nhìn mọi chuyện theo nhiều chiều, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh. Người ta vẫn thường đóng khung suy nghĩ của mình, có thể trong những thứ muốn "nhân danh" như đạo đức, tôn giáo, hoặc chỉ là những thói quen, thậm chí là trong cái cố chấp, nhìn sự việc bằng những định kiến, thành kiến, hay bằng cái "suy nghĩ của đám đông", mà ít chịu tìm hiểu ngọn ngành, ít chịu đặt những câu hỏi "tại sao?".

Tháng tư nóng, trời đất nóng, thế giới nóng (chuyện Mỹ và Triều Tiên), đất nước nóng, xã hội nóng... Nhưng với tôi, hôm nay đọc được dăm ba trang sách mình thích, thế là được...

Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

Buông.




Đức Phật hỏi một vị Sa môn "Tuổi thọ của con người dài trong bao lâu?", Sa môn trả lời ""Chỉ dài bằng một hơi thở". Đức Phật nói "Đúng vậy. Ông là người hiểu đạo" (trích trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương).

Nguyễn Du viết "Trăm năm trong cõi người ta...", "trăm năm" cõi người ngắn hay dài? Trăm năm chắc là dài lắm, đến một thế kỷ, biết bao nhiêu chuyện xảy ra trong một thế kỷ đó. Nhưng "trăm năm" cũng chỉ bằng "một hơi thở", ai đã sống qua cái ngưỡng sáu mươi, bảy mươi... chắc biết, thời gian qua nhanh lắm, nhanh như "vó câu qua cửa sổ", người ta ví tuổi tác như bước đi của con ngựa, lúc còn trẻ tuổi hai mươi, ba mươi thời gian trôi qua như con ngựa đi bước một, lúc trung niên bốn mươi, năm mươi thời gian trôi qua như con ngựa đi nước kiệu, đến sáu mươi, bảy mươi trở đi là lúc con ngựa phi nước đại, thoắt đã một tháng, đã một năm...

Vậy mà trong cõi ta bà này bây giờ quá nhiều chuyện khiến ta phải lo nghĩ, từ những chuyện "đại đại sự" của thế giới xảy ra ở đâu đó xa lắc, cho đến chuyện "đại sự" "trung sự", "tiểu sự"... của quốc gia. của gia đình, của bản thân... thần kinh nào mà chịu cho thấu...

Một trong những triết lý quan trọng của nhà Phật là "Hãy buông xả", buông được cái gì cứ buông, nhà cửa, cái máy tính, điện thoại lâu lâu còn phải dọn dẹp bớt cho thông thoáng, huống hồ là cái "trí nhớ nhỏ nhoi" của con người ("trong trí nhớ nhỏ nhoi, không còn ai còn ai...", lời trong một bài hát của Trịnh Công Sơn).

Có người buông bằng cách đi du lịch đâu đó vài ngày, tắt điện thoại, tắt mạng, không có kêu gọi, nhắn nhó, chát chít, phây phiếc... gì nữa, có điều kiện làm được thì thật tích cực. Nhưng không phải ai cũng làm được điều đó, riêng tôi nếu có thời giờ đi cùng gia đình, người thân đâu đó, thăm thú vài thiên nhiên, vài cảnh chùa, không có thời giờ nhiều tôi sẽ làm một việc gì đó, đọc vài trang sách, đi uống cà phê, có thể với một người bạn mình trò chuyện được, có thể chỉ một mình ra vỉa hè bờ kênh Nhiêu Lộc, kêu một ly cà phê, ngồi nhìn trời nhìn đất...

Chúa cũng đã nói "Chuyện của ngày mai hãy để cho ngày mai lo...".

Cuối tuần chúc các bạn vui vẻ...

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Bánh trôi, bánh chay.


Bánh trôi bánh chay. Ảnh Internet.

Hôm nay ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch, khoảng thời gian này (mùng 3 đến mùng 5), người Hoa (và cả một số người Việt) cúng bánh trôi bánh chay gọi là "Tết hàn thực", tết này liên quan đến điển tích Giới Tử Thôi, người đời Xuân Thu nước Tấn.

"Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cám kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công trong khi tòng vong, nhưng lại quên mất công lao của Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm. Giới Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng, ý muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh, rốt cục cả hai mẹ con ông đều chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm (khoảng từ mồng 3 tháng 3 đến mồng 5 tháng 3 Âm lịch hàng năm)".

(Trích trang Wikipedia).

Sự tích cúng bánh trôi bánh chay trong ngày hàn thực là vậy. Trang Wikipedia nói về chữ "hàn thực": "Hàn Thực" nghĩa là "thức ăn lạnh", dịch như vậy là dịch sát nghĩa của chữ "hàn" trong chữ Hán, theo tôi khi chuyển sang tiếng Việt nên dịch là "thức ăn nguội". Cũng giống như trong tiếng Pháp gọi hai con đường xưa nối từ Sài Gòn (Bến Nghé) vào Chợ Lớn, một là đường dọc theo bờ kênh (đường Hàm Tử) gọi là Route Haute (route = con đường, haute = cao), nếu dịch sát chữ phải là Đường Cao. Thứ nhì là đường Nguyễn Trãi bây giờ Tây gọi là Route Basse (basse = thấp), dịch sát nghĩa là Đường Thấp. Nhưng người Việt không gọi là Đường Cao và Đường Thấp, mà gọi là Đường Trên và Đường Dưới.

Trở lại chuyện Giới Tử Thôi, ngày xưa bên Tàu, do vua "hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm", nên trong ba ngày đó họ mới nấu bánh trôi để ăn dần, vì đây là loại bánh thả trong nước đường khá đặc có thể để vài ngày không sợ hư, và bánh làm bằng bột nếp có nhân bên trong, ăn tạm no trong vài ngày. Lâu dần từ loại bánh tiện lợi ăn trong vài ngày kiêng nổi lửa (nấu bếp), thành ra loại bánh không thể thiếu dùng để cúng trong ngày tưởng niệm Giới Tử Thôi.

Đấy là điển tích của người Hoa cúng mùng 3 tháng 3, còn đối với người Việt cúng trong ngày này thì sao, chẳng lẽ người mình cũng tưởng niệm một ông Giới Tử Thôi nào đó lạ hoắc? Theo tôi trong việc cúng bái, người Việt có nhiều điều "bắt chước" người Hoa (hoặc làm theo người khác), nhiều khi bắt chước hay làm theo một cách vô thức, thấy ngày đó họ cúng thì mình cũng cúng, cũng làm (như người bên Công giáo bây giờ cũng làm 49, 100 ngày). Nhưng khi cúng bánh trôi trong ngày mùng 3 tháng 3 người Việt mình cúng dâng lên tổ tiên, ông bà, để tưởng niệm những người thân đã khuất. Bà xã tôi nói ngày xưa trong gia đình bà cụ cũng cúng mùng 3 tháng 3, hồi ấy (trước năm 1975), sáng sớm đứa nào đó trong nhà phải xách bịch gạo nếp đã ngâm sẵn từ ngày hôm trước đi xay thành bột, về nhà mới làm thành bánh trôi bánh chay để cúng lên tổ tiên chứ không biết ông Giới Tử Thôi là ai cả.



Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

Chùa Ông - Chùa Ông Bổn.

Nhị Phủ miếu (Chùa Ông Bổn). Ảnh Internet.

Người bạn hỏi thỉnh thoảng ghé mấy ngôi chùa của người Hoa trong Chợ Lớn, chùa của họ quen gọi là chùa Ông, chùa Bà. Chùa Ông thờ Quan Công, chùa Bà thờ Bà Thiên Hậu, nhưng cũng có một ngôi chùa thờ "Ông Bổn Đầu Công" gọi là chùa Ông Bổn, hình như không phải thờ Quan Công?

Ngưởi bạn nói đúng, ở Sài Gòn mà tập trung trong Chợ Lớn có khá nhiều ngôi chùa của người Hoa (cũng còn được gọi là miếu hoặc hội quán). Những ngôi chùa này phổ biến thờ Quan Công, dân gian quen gọi là chùa Ông, và thờ bà Thiên Hậu, quen gọi là chùa Bà.

Như đã biết, ta thường thấy chùa Ông thờ Quan Công, tức Quan Vũ, Quan Vân Trường, một nhân vật thời Tam quốc nổi tiếng về võ dõng, chính trực, nghĩa khí, cũng còn được gọi là Quan Đế, được tôn vinh như bậc thánh. Ông được mệnh danh là một trong "Trung Hoa thập thánh"* và "Tam Quốc tứ tuyệt"**.

Trong Chợ Lớn còn có một ngôi chùa của người Hoa khác tọa lạc tại số 264 Hải Thượng Lãn Ông, quận 5 có tên là chùa Ông Bổn, còn gọi là Nhị Phủ miếu. Trước hết xin nói về tên gọi Nhị Phủ miếu, bởi xưa ngôi miếu này do di dân gốc ở hai phủ Chương Châu và Tuyền Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến - Trung Hoa xây dựng. Xưa người Hoa ở Chợ Lớn được chia thành 5 bang theo tiếng nói là Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Hẹ. Nhị Phủ miếu là hội quán của người Phúc Kiến, mỗi bang như vậy họ tổ chức rất tốt về đời sống và tinh thần, họ có chùa (hội quán), có bệnh viện, trường học (tiểu học và trung học)... để lo cho người trong bang.

Về tên gọi Ông Bổn, theo cụ Vương Vương Hồng Sển viết trong Sài Gòn năm xưa thì Ông Bổn là Thái giám Trịnh Hòa đời Vĩnh Lạc (1403 - 1424), được vua sai dùng thuyền đi khắp miền Đông Nam Á ban bố văn hóa Trung Hoa, và nhân tiện mua về cho vua kỳ trân dị bửu của các nước đó. Trịnh Hòa là một nhà du lịch, ngoại giao, địa lý, ngôn ngữ... giỏi, đi đến đâu ông cũng ban ơn thí đức, đưa người Tàu đến lập nghiệp. Đến khi ông mất dân Hoa kiều nhớ ơn thờ làm phúc thần, vua sắc phong cho ông là "Tam Bửu Công", cũng gọi là "Bổn Đầu Công" (giọng Tàu là Bủn Thầu Cúng), gọi tắt là Ông Bổn.

Ở một quyển sách khác, quyển Một Số Cơ Sở Tín Ngưỡng Dân Gian của Sở văn Hóa và Thông Tin TP. HCM & Ban Quản Lý Di Tích Lịch Sử Văn Hóa và Danh Lam Thắng Cảnh, in năm 2000 (nhiều tác giả). Trong đó có bài viết về Nhị Phủ miếu của Nguyễn Thị Minh Lý trích dẫn theo sách Gia Định thành Phật tích khảo cổ, bản chữ Hán lưu ở miếu Nhị Phủ (Lý Văn Hùng), và sách Người Hoa ở Việt Nam, Sài Gòn 1963 (Thi Đạt Chí), chép Bổn Đầu Công thờ ở miếu Nhị Phủ là Châu Đạt Quan, một viên quan sống vào thế kỷ XVIII (lưu ý sách viết thế kỷ XVIII) ở Trung Quốc, từng đi sứ đến nhiều nước ở Đông Nam Á, trong đó có vùng đất phía nam Việt Nam. Ông còn là nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học... là tác giả quyển "Chân Lạp phong thổ ký".

Theo hai quyển sách trên, thì Ông Bổn là hai nhân vật khác nhau, một người là Thái giám Trịnh Hòa sống ở thế kỷ thứ XV, một người là Châu Đạt Quan sống dưới triều vua Thành Tông (1295 - 1308), trong sách Một Số Cơ Sở Tín Ngưỡng Dân Gian đã dẫn bên trên ghi ông sống ở vào thế kỷ XVIII là không đúng. Trong Lời nói đầu của sách Chân Lạp phong thổ ký của ông (Kỷ Nguyên Mới - Saigon 1973) ghi nhận Châu Đạt Quan sống dưới triều vua Thành Tông (1295 - 1308), tức là vào cuối thế kỷ XIII sang thế kỷ XIV trước cả Trịnh Hòa (thế kỷ XV).

Vài nét về sự khác biệt giữa Chùa Ông và Chùa Ông Bổn của người Hoa trong Chợ Lớn.

Tham khảo:

- Những sách đã dẫn.

Ghi chú:

* Trung Hoa thập thánh:

1- Văn Thánh Khổng Tử (nhà tư tưởng thời Xuân Thu);
2- Binh Thánh Tôn Vũ (nhà quân sự thời Xuân Thu);
3- Sử Thánh Tư Mã Thiên (nhà sử học thời Tây Hán);
4- Y Thánh Trương Trọng Cảnh (lang y thời Đông Hán);
5- Võ Thánh Quan Vũ (tướng lĩnh thời Đông Hán-Tam Quốc);
6- Thư Thánh Vương Hi Chi (nhà thư pháp thời Đông Tấn);
7- Họa Thánh Ngô Đạo Tử (họa sĩ thời Đường);
8- Thi Thánh Đỗ Phủ (nhà thơ thời Đường);
9- Trà Thánh Lục Vũ (nhân vật thời Đường);
10- Tửu Thánh Đỗ Khang (nhân vật thời Chu).

** Tam Quốc tứ tuyệt:

1- Tuyệt nhân: Lưu Bị.
2- Tuyệt trí: Khổng Minh Gia Cát Lượng.
3- Tuyệt nghĩa: Quan vân Trường.
4- Tuyệt gian: Tào Tháo.

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

Cột cờ Thủ Ngữ và Nhà Rồng.




Cột cờ Thủ Ngữ và NHà Rồng. Ảnh Internet.

Lịch sử của Sài Gòn chỉ chừng trên 300 năm nay, nếu tính từ mùa xuân năm Mậu Dần (1698) chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, sách Gia Định thành Thông chí chép "lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, đặt dinh Trấn Biên (Biên Hòa) làm dinh Phiên Trấn".

Một vài kiến trúc xưa gắn liền với lịch sử của đô thành Sài Gòn đã trở thành cổ tích, có thể kể đến Cột cờ Thủ Ngữ và Nhà Rồng:

- Cột cờ Thủ Ngữ: Sách Sài Gòn năm xưa của cụ Vương Hồng Sển chép:

Sông Thị Nghè giáp với rạch Bến Nghé, chổ giáp nước là một cái thoi loi gie ra ngoài sông, phong cảnh rất đẹp, gió mát từ Ô Cấp thổi vào tư mùa. Người Pháp dựng tại đây một cột cờ tên gọi "cờ Thủ Ngữ" (mât des dignaux). Sau đây vì có quán rượu trứ danh chiêu mộ anh hùng mặc khach1 rất đông, nên bợm rượu đặt tên rất khôi hài là "Mũi đất bọn tán dóc" (Pointe des Blagueurs) (Truy ra dưới thời Nam triều chỗ này gọi là "trạm Gia Tân).

"Gia Tân nền tạm thuở xưa,

Ngày nay có dựng cột cờ gần bên".

(Kim Gia Định phong cảnh vịnh, bản in Trương Vĩnh Ký, tr.7).

Trên chót vót ngọn cờ thường thấy treo ám ngữ, ban ngày là cờ vải, cờ màu, hoặc một quả bóng sơn đen. Ban đêm thì treo một ánh đèn, khi trắng khi đỏ, tức là ám hiệu báo tin cho tàu bè biết hiệu li5ng tránh lỗ rạn hiểm nguy, ghe thuyền qua lại, trong lúc vô ra sông Sài Gòn.

Nghĩ cho hồi đời xưa, lúc chưa có xe ô tô lộng lẫy thì đi đó đi đây toàn là "cuốc bộ", sang lắm mới được xe kiếng, xe song mã v.v... Bởi các cớ ấy nên khúc đường từ "Dinh Thượng Thơ" đổ qua "Dinh Phó Soái" rồi ăn xuống tới "Cột cờ Thủ Ngữ" đã kể cho là xa mút tí tè...

(Hết trích)

Về chữ Thủ Ngữ, ở Sài Gòn có vài địa danh mang chữ "Thủ", như Thủ Thiêm, Thủ Đức, xa hơn nữa ta có Thủ Dầu Một ở Bình Dương, Thủ Thừa ở Long An... Theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, "Thủ" có nghĩa là "giữ, giữ gìn", "Thủ ngữ" là "Chức quan giữ cửa biển, đồn thủ tại cửa biển".

Theo sách vở thì cột cờ Thủ Ngữ được xây dựng vào tháng 10 năm 1865. Trên một tấm ảnh chụp có cột cờ Thủ Ngữ và cả Nhà Rồng, ta thấy ghi năm 1882.

- Nhà Rồng (cũng hay gọi là Bến Nhà Rồng): Theo sách vở ghi chép lại thì Nhà Rồng là một tòa nhà được xây dựng vào ngày 4 tháng 3 năm 1863 bởi hãng Vận tải đường biển của Pháp Messageries Maritimes, như vậy được xây dựng trước trước cột cờ Thủ Ngữ 2 năm và gần kề bên cột cờ Thủ Ngữ. Sở dĩ tòa nhà được gọi là Nhà Rồng bởi trên nóc nhà có gắn một cặp rồng bằng đất nung tráng men xanh. Có một chi tiết nếu chú ý, ta thấy trên ảnh ban đầu cặp rồng được gắn theo thế quay mặt vào nhau, kiểu "Lưỡng long tranh châu", hay "Lưỡng long chầu nguyệt". Nhưng đến năm 1945 tòa nhà khi ấy bị Nhật chiếm, đã bị máy bay đồng minh bắn phá hư hỏng, sau khi sửa chữa thì cặp rồng đã được gắn quay đầu ra ngoài.

Nhà Rồng hiện nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi đây ngày 5 tháng 6 năm 1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này là Hồ Chí Minh) đã ra đi tìm đường cứu nước.

Tham khảo:

- Các sách đã dẫn.

- Cửa sổ tri thức, PGS. TS Lê Trung Hoa, NXB Trẻ - 2005.

- Hỏi đáp về Sài Gòn - TP. HCM, Tập 6 Kiến trúc, Tín ngưỡng, nhiều tác giả, NXB Trẻ - 2007.