Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

Đọc.



Tôi vẫn thường xuyên đọc sách, lai rai đọc, rảnh cứ lấy ra mà đọc ngày dăm bảy trang, cũng như đọc kinh... hay tụng kinh kệ vậy.

Tôi thường mang một quyển sách theo đọc khi ngồi một mình ở quán cà phê, chờ khi chở bà xã đi chợ, đi công chuyện, chờ... khám bệnh, hoặc đưa người nhà đi khám, đấy là thời gian mình có thể đọc được nhiều nhất. Bây giờ tôi thường đọc sách về kiến thức, tra cứu, ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo, hồi ký của những người nổi tiếng... Thời trẻ đọc thiên về tiểu thuyết, truyện dịch... Mỗi thời mỗi khác, cũng như suy nghĩ, mỗi thời, mỗi tuổi ta sẽ có những suy nghĩ khác nhau, thậm chí trái hẳn nhau. Đấy cũng là lẽ thường tinh

Tôi có được một tủ sách kha khá, khá nhiều từ điển các loại, mỗi loại từ điển, chẳng hạn như từ điển tiếng Việt, Hán Việt, lại có nhiều quyển, của nhiều tác giả khác nhau, sách về lịch sử, tôn giáo, về phong tục văn hóa dân gian cũng thế, mỗi khi cần tra cứu một vấn đề gì tôi thường tra trên nhiều sách mình có, tra cả trên mạng, rồi so sánh, nhận xét, đúc kết... Đối với nhiều vấn đề trong cuộc sống, tôi vẫn thường luôn có những câu hỏi tai sao, lý do nào sự việc đó lại xảy ra? mục đích là gì? có gì đúng hay sai trái?

Tôi luôn muốn nhìn mọi chuyện theo nhiều chiều, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh. Người ta vẫn thường đóng khung suy nghĩ của mình, có thể trong những thứ muốn "nhân danh" như đạo đức, tôn giáo, hoặc chỉ là những thói quen, thậm chí là trong cái cố chấp, nhìn sự việc bằng những định kiến, thành kiến, hay bằng cái "suy nghĩ của đám đông", mà ít chịu tìm hiểu ngọn ngành, ít chịu đặt những câu hỏi "tại sao?".

Tháng tư nóng, trời đất nóng, thế giới nóng (chuyện Mỹ và Triều Tiên), đất nước nóng, xã hội nóng... Nhưng với tôi, hôm nay đọc được dăm ba trang sách mình thích, thế là được...

Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

Buông.




Đức Phật hỏi một vị Sa môn "Tuổi thọ của con người dài trong bao lâu?", Sa môn trả lời ""Chỉ dài bằng một hơi thở". Đức Phật nói "Đúng vậy. Ông là người hiểu đạo" (trích trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương).

Nguyễn Du viết "Trăm năm trong cõi người ta...", "trăm năm" cõi người ngắn hay dài? Trăm năm chắc là dài lắm, đến một thế kỷ, biết bao nhiêu chuyện xảy ra trong một thế kỷ đó. Nhưng "trăm năm" cũng chỉ bằng "một hơi thở", ai đã sống qua cái ngưỡng sáu mươi, bảy mươi... chắc biết, thời gian qua nhanh lắm, nhanh như "vó câu qua cửa sổ", người ta ví tuổi tác như bước đi của con ngựa, lúc còn trẻ tuổi hai mươi, ba mươi thời gian trôi qua như con ngựa đi bước một, lúc trung niên bốn mươi, năm mươi thời gian trôi qua như con ngựa đi nước kiệu, đến sáu mươi, bảy mươi trở đi là lúc con ngựa phi nước đại, thoắt đã một tháng, đã một năm...

Vậy mà trong cõi ta bà này bây giờ quá nhiều chuyện khiến ta phải lo nghĩ, từ những chuyện "đại đại sự" của thế giới xảy ra ở đâu đó xa lắc, cho đến chuyện "đại sự" "trung sự", "tiểu sự"... của quốc gia. của gia đình, của bản thân... thần kinh nào mà chịu cho thấu...

Một trong những triết lý quan trọng của nhà Phật là "Hãy buông xả", buông được cái gì cứ buông, nhà cửa, cái máy tính, điện thoại lâu lâu còn phải dọn dẹp bớt cho thông thoáng, huống hồ là cái "trí nhớ nhỏ nhoi" của con người ("trong trí nhớ nhỏ nhoi, không còn ai còn ai...", lời trong một bài hát của Trịnh Công Sơn).

Có người buông bằng cách đi du lịch đâu đó vài ngày, tắt điện thoại, tắt mạng, không có kêu gọi, nhắn nhó, chát chít, phây phiếc... gì nữa, có điều kiện làm được thì thật tích cực. Nhưng không phải ai cũng làm được điều đó, riêng tôi nếu có thời giờ đi cùng gia đình, người thân đâu đó, thăm thú vài thiên nhiên, vài cảnh chùa, không có thời giờ nhiều tôi sẽ làm một việc gì đó, đọc vài trang sách, đi uống cà phê, có thể với một người bạn mình trò chuyện được, có thể chỉ một mình ra vỉa hè bờ kênh Nhiêu Lộc, kêu một ly cà phê, ngồi nhìn trời nhìn đất...

Chúa cũng đã nói "Chuyện của ngày mai hãy để cho ngày mai lo...".

Cuối tuần chúc các bạn vui vẻ...

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Bánh trôi, bánh chay.


Bánh trôi bánh chay. Ảnh Internet.

Hôm nay ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch, khoảng thời gian này (mùng 3 đến mùng 5), người Hoa (và cả một số người Việt) cúng bánh trôi bánh chay gọi là "Tết hàn thực", tết này liên quan đến điển tích Giới Tử Thôi, người đời Xuân Thu nước Tấn.

"Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cám kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công trong khi tòng vong, nhưng lại quên mất công lao của Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm. Giới Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng, ý muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh, rốt cục cả hai mẹ con ông đều chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm (khoảng từ mồng 3 tháng 3 đến mồng 5 tháng 3 Âm lịch hàng năm)".

(Trích trang Wikipedia).

Sự tích cúng bánh trôi bánh chay trong ngày hàn thực là vậy. Trang Wikipedia nói về chữ "hàn thực": "Hàn Thực" nghĩa là "thức ăn lạnh", dịch như vậy là dịch sát nghĩa của chữ "hàn" trong chữ Hán, theo tôi khi chuyển sang tiếng Việt nên dịch là "thức ăn nguội". Cũng giống như trong tiếng Pháp gọi hai con đường xưa nối từ Sài Gòn (Bến Nghé) vào Chợ Lớn, một là đường dọc theo bờ kênh (đường Hàm Tử) gọi là Route Haute (route = con đường, haute = cao), nếu dịch sát chữ phải là Đường Cao. Thứ nhì là đường Nguyễn Trãi bây giờ Tây gọi là Route Basse (basse = thấp), dịch sát nghĩa là Đường Thấp. Nhưng người Việt không gọi là Đường Cao và Đường Thấp, mà gọi là Đường Trên và Đường Dưới.

Trở lại chuyện Giới Tử Thôi, ngày xưa bên Tàu, do vua "hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm", nên trong ba ngày đó họ mới nấu bánh trôi để ăn dần, vì đây là loại bánh thả trong nước đường khá đặc có thể để vài ngày không sợ hư, và bánh làm bằng bột nếp có nhân bên trong, ăn tạm no trong vài ngày. Lâu dần từ loại bánh tiện lợi ăn trong vài ngày kiêng nổi lửa (nấu bếp), thành ra loại bánh không thể thiếu dùng để cúng trong ngày tưởng niệm Giới Tử Thôi.

Đấy là điển tích của người Hoa cúng mùng 3 tháng 3, còn đối với người Việt cúng trong ngày này thì sao, chẳng lẽ người mình cũng tưởng niệm một ông Giới Tử Thôi nào đó lạ hoắc? Theo tôi trong việc cúng bái, người Việt có nhiều điều "bắt chước" người Hoa (hoặc làm theo người khác), nhiều khi bắt chước hay làm theo một cách vô thức, thấy ngày đó họ cúng thì mình cũng cúng, cũng làm (như người bên Công giáo bây giờ cũng làm 49, 100 ngày). Nhưng khi cúng bánh trôi trong ngày mùng 3 tháng 3 người Việt mình cúng dâng lên tổ tiên, ông bà, để tưởng niệm những người thân đã khuất. Bà xã tôi nói ngày xưa trong gia đình bà cụ cũng cúng mùng 3 tháng 3, hồi ấy (trước năm 1975), sáng sớm đứa nào đó trong nhà phải xách bịch gạo nếp đã ngâm sẵn từ ngày hôm trước đi xay thành bột, về nhà mới làm thành bánh trôi bánh chay để cúng lên tổ tiên chứ không biết ông Giới Tử Thôi là ai cả.



Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

Chùa Ông - Chùa Ông Bổn.

Nhị Phủ miếu (Chùa Ông Bổn). Ảnh Internet.

Người bạn hỏi thỉnh thoảng ghé mấy ngôi chùa của người Hoa trong Chợ Lớn, chùa của họ quen gọi là chùa Ông, chùa Bà. Chùa Ông thờ Quan Công, chùa Bà thờ Bà Thiên Hậu, nhưng cũng có một ngôi chùa thờ "Ông Bổn Đầu Công" gọi là chùa Ông Bổn, hình như không phải thờ Quan Công?

Ngưởi bạn nói đúng, ở Sài Gòn mà tập trung trong Chợ Lớn có khá nhiều ngôi chùa của người Hoa (cũng còn được gọi là miếu hoặc hội quán). Những ngôi chùa này phổ biến thờ Quan Công, dân gian quen gọi là chùa Ông, và thờ bà Thiên Hậu, quen gọi là chùa Bà.

Như đã biết, ta thường thấy chùa Ông thờ Quan Công, tức Quan Vũ, Quan Vân Trường, một nhân vật thời Tam quốc nổi tiếng về võ dõng, chính trực, nghĩa khí, cũng còn được gọi là Quan Đế, được tôn vinh như bậc thánh. Ông được mệnh danh là một trong "Trung Hoa thập thánh"* và "Tam Quốc tứ tuyệt"**.

Trong Chợ Lớn còn có một ngôi chùa của người Hoa khác tọa lạc tại số 264 Hải Thượng Lãn Ông, quận 5 có tên là chùa Ông Bổn, còn gọi là Nhị Phủ miếu. Trước hết xin nói về tên gọi Nhị Phủ miếu, bởi xưa ngôi miếu này do di dân gốc ở hai phủ Chương Châu và Tuyền Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến - Trung Hoa xây dựng. Xưa người Hoa ở Chợ Lớn được chia thành 5 bang theo tiếng nói là Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Hẹ. Nhị Phủ miếu là hội quán của người Phúc Kiến, mỗi bang như vậy họ tổ chức rất tốt về đời sống và tinh thần, họ có chùa (hội quán), có bệnh viện, trường học (tiểu học và trung học)... để lo cho người trong bang.

Về tên gọi Ông Bổn, theo cụ Vương Vương Hồng Sển viết trong Sài Gòn năm xưa thì Ông Bổn là Thái giám Trịnh Hòa đời Vĩnh Lạc (1403 - 1424), được vua sai dùng thuyền đi khắp miền Đông Nam Á ban bố văn hóa Trung Hoa, và nhân tiện mua về cho vua kỳ trân dị bửu của các nước đó. Trịnh Hòa là một nhà du lịch, ngoại giao, địa lý, ngôn ngữ... giỏi, đi đến đâu ông cũng ban ơn thí đức, đưa người Tàu đến lập nghiệp. Đến khi ông mất dân Hoa kiều nhớ ơn thờ làm phúc thần, vua sắc phong cho ông là "Tam Bửu Công", cũng gọi là "Bổn Đầu Công" (giọng Tàu là Bủn Thầu Cúng), gọi tắt là Ông Bổn.

Ở một quyển sách khác, quyển Một Số Cơ Sở Tín Ngưỡng Dân Gian của Sở văn Hóa và Thông Tin TP. HCM & Ban Quản Lý Di Tích Lịch Sử Văn Hóa và Danh Lam Thắng Cảnh, in năm 2000 (nhiều tác giả). Trong đó có bài viết về Nhị Phủ miếu của Nguyễn Thị Minh Lý trích dẫn theo sách Gia Định thành Phật tích khảo cổ, bản chữ Hán lưu ở miếu Nhị Phủ (Lý Văn Hùng), và sách Người Hoa ở Việt Nam, Sài Gòn 1963 (Thi Đạt Chí), chép Bổn Đầu Công thờ ở miếu Nhị Phủ là Châu Đạt Quan, một viên quan sống vào thế kỷ XVIII (lưu ý sách viết thế kỷ XVIII) ở Trung Quốc, từng đi sứ đến nhiều nước ở Đông Nam Á, trong đó có vùng đất phía nam Việt Nam. Ông còn là nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học... là tác giả quyển "Chân Lạp phong thổ ký".

Theo hai quyển sách trên, thì Ông Bổn là hai nhân vật khác nhau, một người là Thái giám Trịnh Hòa sống ở thế kỷ thứ XV, một người là Châu Đạt Quan sống dưới triều vua Thành Tông (1295 - 1308), trong sách Một Số Cơ Sở Tín Ngưỡng Dân Gian đã dẫn bên trên ghi ông sống ở vào thế kỷ XVIII là không đúng. Trong Lời nói đầu của sách Chân Lạp phong thổ ký của ông (Kỷ Nguyên Mới - Saigon 1973) ghi nhận Châu Đạt Quan sống dưới triều vua Thành Tông (1295 - 1308), tức là vào cuối thế kỷ XIII sang thế kỷ XIV trước cả Trịnh Hòa (thế kỷ XV).

Vài nét về sự khác biệt giữa Chùa Ông và Chùa Ông Bổn của người Hoa trong Chợ Lớn.

Tham khảo:

- Những sách đã dẫn.

Ghi chú:

* Trung Hoa thập thánh:

1- Văn Thánh Khổng Tử (nhà tư tưởng thời Xuân Thu);
2- Binh Thánh Tôn Vũ (nhà quân sự thời Xuân Thu);
3- Sử Thánh Tư Mã Thiên (nhà sử học thời Tây Hán);
4- Y Thánh Trương Trọng Cảnh (lang y thời Đông Hán);
5- Võ Thánh Quan Vũ (tướng lĩnh thời Đông Hán-Tam Quốc);
6- Thư Thánh Vương Hi Chi (nhà thư pháp thời Đông Tấn);
7- Họa Thánh Ngô Đạo Tử (họa sĩ thời Đường);
8- Thi Thánh Đỗ Phủ (nhà thơ thời Đường);
9- Trà Thánh Lục Vũ (nhân vật thời Đường);
10- Tửu Thánh Đỗ Khang (nhân vật thời Chu).

** Tam Quốc tứ tuyệt:

1- Tuyệt nhân: Lưu Bị.
2- Tuyệt trí: Khổng Minh Gia Cát Lượng.
3- Tuyệt nghĩa: Quan vân Trường.
4- Tuyệt gian: Tào Tháo.

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

Cột cờ Thủ Ngữ và Nhà Rồng.




Cột cờ Thủ Ngữ và NHà Rồng. Ảnh Internet.

Lịch sử của Sài Gòn chỉ chừng trên 300 năm nay, nếu tính từ mùa xuân năm Mậu Dần (1698) chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, sách Gia Định thành Thông chí chép "lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, đặt dinh Trấn Biên (Biên Hòa) làm dinh Phiên Trấn".

Một vài kiến trúc xưa gắn liền với lịch sử của đô thành Sài Gòn đã trở thành cổ tích, có thể kể đến Cột cờ Thủ Ngữ và Nhà Rồng:

- Cột cờ Thủ Ngữ: Sách Sài Gòn năm xưa của cụ Vương Hồng Sển chép:

Sông Thị Nghè giáp với rạch Bến Nghé, chổ giáp nước là một cái thoi loi gie ra ngoài sông, phong cảnh rất đẹp, gió mát từ Ô Cấp thổi vào tư mùa. Người Pháp dựng tại đây một cột cờ tên gọi "cờ Thủ Ngữ" (mât des dignaux). Sau đây vì có quán rượu trứ danh chiêu mộ anh hùng mặc khach1 rất đông, nên bợm rượu đặt tên rất khôi hài là "Mũi đất bọn tán dóc" (Pointe des Blagueurs) (Truy ra dưới thời Nam triều chỗ này gọi là "trạm Gia Tân).

"Gia Tân nền tạm thuở xưa,

Ngày nay có dựng cột cờ gần bên".

(Kim Gia Định phong cảnh vịnh, bản in Trương Vĩnh Ký, tr.7).

Trên chót vót ngọn cờ thường thấy treo ám ngữ, ban ngày là cờ vải, cờ màu, hoặc một quả bóng sơn đen. Ban đêm thì treo một ánh đèn, khi trắng khi đỏ, tức là ám hiệu báo tin cho tàu bè biết hiệu li5ng tránh lỗ rạn hiểm nguy, ghe thuyền qua lại, trong lúc vô ra sông Sài Gòn.

Nghĩ cho hồi đời xưa, lúc chưa có xe ô tô lộng lẫy thì đi đó đi đây toàn là "cuốc bộ", sang lắm mới được xe kiếng, xe song mã v.v... Bởi các cớ ấy nên khúc đường từ "Dinh Thượng Thơ" đổ qua "Dinh Phó Soái" rồi ăn xuống tới "Cột cờ Thủ Ngữ" đã kể cho là xa mút tí tè...

(Hết trích)

Về chữ Thủ Ngữ, ở Sài Gòn có vài địa danh mang chữ "Thủ", như Thủ Thiêm, Thủ Đức, xa hơn nữa ta có Thủ Dầu Một ở Bình Dương, Thủ Thừa ở Long An... Theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, "Thủ" có nghĩa là "giữ, giữ gìn", "Thủ ngữ" là "Chức quan giữ cửa biển, đồn thủ tại cửa biển".

Theo sách vở thì cột cờ Thủ Ngữ được xây dựng vào tháng 10 năm 1865. Trên một tấm ảnh chụp có cột cờ Thủ Ngữ và cả Nhà Rồng, ta thấy ghi năm 1882.

- Nhà Rồng (cũng hay gọi là Bến Nhà Rồng): Theo sách vở ghi chép lại thì Nhà Rồng là một tòa nhà được xây dựng vào ngày 4 tháng 3 năm 1863 bởi hãng Vận tải đường biển của Pháp Messageries Maritimes, như vậy được xây dựng trước trước cột cờ Thủ Ngữ 2 năm và gần kề bên cột cờ Thủ Ngữ. Sở dĩ tòa nhà được gọi là Nhà Rồng bởi trên nóc nhà có gắn một cặp rồng bằng đất nung tráng men xanh. Có một chi tiết nếu chú ý, ta thấy trên ảnh ban đầu cặp rồng được gắn theo thế quay mặt vào nhau, kiểu "Lưỡng long tranh châu", hay "Lưỡng long chầu nguyệt". Nhưng đến năm 1945 tòa nhà khi ấy bị Nhật chiếm, đã bị máy bay đồng minh bắn phá hư hỏng, sau khi sửa chữa thì cặp rồng đã được gắn quay đầu ra ngoài.

Nhà Rồng hiện nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi đây ngày 5 tháng 6 năm 1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này là Hồ Chí Minh) đã ra đi tìm đường cứu nước.

Tham khảo:

- Các sách đã dẫn.

- Cửa sổ tri thức, PGS. TS Lê Trung Hoa, NXB Trẻ - 2005.

- Hỏi đáp về Sài Gòn - TP. HCM, Tập 6 Kiến trúc, Tín ngưỡng, nhiều tác giả, NXB Trẻ - 2007.

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Tên một vài đường phố ở Sài Gòn - Chợ Lớn thời Pháp thuộc.

Rue Bangkok (đường Mạc Đĩnh Chi). Ảnh Internet.

Rue Catinat (Tự Do - Đồng Khởi). Ảnh Internet.

Route Haute (đường Trên - Nguyễn Trãi, Chợ Lớn)

Năm 1861 thành phố Sài gòn được thành lập bởi một nghị định của phó đô đốc Leonard Charner (tiếng Pháp Ville de Saigon). Diện tích thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ khoảng 25 cây số vuông, bao gồm khu vực Sài Gòn cũ (khu vực Đề Ngạn tức Chợ Lớn sau này) và Bến Nghé.

Năm 1862 một hòa ước được ký kết giữa đại diện của triều đình Huế là Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp, và đại diện của Pháp và Tây Ban NHa là Bonard và Palanca, gọi là Hòa ước năm Nhâm Tuất, gồm 12 điều khoản. Trong đó khoản 3 ghi: "Nhượng trọn chủ quyền 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Địng Tường và đảo Côn Lôn (Côn Sơn), tức là 3 tỉnh miền đông và đảo Côn Lôn, trong đó có thành phố Sài Gòn đã được người Pháp thành lập vào năm 1861, bao gồm cả vùng Sài Gòn (Chợ Lớn sau này) và khu Bến Nghé cũ.

Đến năm 1865 quyền Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là chuẩn đô đốc Pierre Roze đã ký nghị định ngày 3-10-1865, quy định thành phố Sài Gòn (Ville de Saigon) chỉ còn 3 cây số vuông tại khu vực Bến Nghé, đồng thời thành lập thành phố Chợ Lớn (Ville de Cholon) tại khu vực Sài Gòn cũ.

Từ năm 1861 sau khi chiếm được thành Gia Định và triệt hạ thành, người Pháp đã bắt đầu xây dựng những con đường. Cùng với việc thành lập thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn, từ năm 1865, người Pháp đã đặt tên cho các con đường tại hai thành phố này, lúc bấy giờ là những con đường nhỏ hẹp sử dụng cho người đi bộ, và những phương tiện thô sơ, như xe ngựa, xe bò, xe kéo...

Người Pháp đã đặt tên cho những con đường mới mở ở Sài Gòn - Chợ Lớn theo nhiều tên gọi. Ở Sài Gòn có những con đường đặt theo tên của những người danh tiếng như: Rue Catinat (Tự Do - Đồng Khởi), Catinat là tên một thống chế, Boulevard Charner (Nguyễn Huệ), Charner tên một đô đốc, Boulevard Bonard (Lê Lợi), Bonard tên của một đề đốc, một trong những thống đốc của Nam Kỳ, Rue Grandière (Gia Long - Lý Tự Trong), Pierre de La Grandière, đề đốc, cũng là một thống đốc Nam Kỳ, Rue Doumer, Paul Doumer là tên của vị Toàn quyền Đông Dương, Rue Blanchy (Hai Bà Trưng), Paul Blanchy tên một thương gia Pháp đã làm Thống đốc Nam Kỳ gần 20 năm, Rue Barbé, Barbé tên một đại úy Pháp (quan ba) bị giết gần chùa Khải Tường bởi nghĩa quân của Trương Định, Rue miss Cavell (Huyền Trân Công Chúa), cũng có sách viết là Cauwel tên một nữ y tá người Anh bị Đức xử bắn trong thế chiến thứ I, Rue Chasseloup Laubat (Hồng Thập Tự - Nguyễn Thị Minh Khai), Chasseloup Laubat là Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại, Rue d' Adran - Cha Cả, giám mục Bá Đa Lộc (Hồ Tùng Mậu) Rue Lefrère (Nguyễn Công Trứ), Lefrère là tên một vị giám mục sau giám mục Bá Đa Lộc. Có những đường đặt theo những tên gọi khác, như: Rue d' Espagne (Lê Thánh Tôn), Quai de Belgique (Bến Bạch Đằng), Rue Bangkok (Mạc Đĩnh Chi), Rue Hongkong (Nguyễn Hậu - Nguyễn Văn Bình), Rue Shanghai - đường Thượng Hải (Nguyễn Trung Ngạn), Rue Cap St Jacques (Nguyễn Trung Trực), Rue Noel (Nguyễn Huy Tự), Rue des Mois (đường Mọi - Phan Đình Phùng - Nguyễn Đình Chiểu)...

Ở Chợ Lớn ngoài những tên đường nhân vật danh tiếng, còn có những tên đường đặt theo những chủ đề khác như: Rue Paris (Phùng Hưng), Rue Canton - đường Quảng Đông (Triệu Quang Phục), Rue Cambodge, sau đổi thành đường Kim Biên, Kim Biên tiếng Hán Việt là tên gọi của thủ đô Phnom Penh, Route Haute, đường Trên (Nguyễn Trãi), Route Basse, đường Dưới (Hàm Tử), đường này có trước đường Trên, Rue d' Annam (Mạc Thiên Tích), Rue des Marins - đường Thủy binh (Đồng Khánh - Trần Hưng Đạo B), Quai de Foukien (Bến Phúc Kiến), Quai de la distillerie (Bến Nhà máy rượu). Một số đường khác mang tên Việt (những con đường này vẫn còn giữ nguyên tên đến bây giờ), vì đi qua những khu vực, địa danh đã có tên Việt như: Rue An Điềm, Rue Gia Phú, Rue Gò Công (đường từ Chợ Lớn đi Gò Công), Rue Ký Hòa (gọi sai của Chí Hòa), Rue Phú Định, Rue Phú Giáo, Rue Phú Hữu, Rue Tân Hàng... Người Pháp lúc bấy giờ còn lấy số đặt tên cho một số con đường ở Chợ Lớn: đường số 6 (Bạch Vân), đường số 7 (Bùi Hữu Nghĩa), đường số 6 bis (Chiêu Anh Các), đường số 10 (Đào Tấn), đường số 4 (Phan Văn Trị)....


Tham khảo:

- Đường phố nội thành TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Đình Tư, Chi Cục Bản Đồ và Khảo Sát Xây Dựng & NXB TP> Hồ Chí Minh - 1994.

- Đường phố TP. Hồ Chí Minh, NXB Văn Hóa Thông Tin - 2001.

- Từ điển TP. Sài Gòn - Hồ Chí Minh, Nhiều tác giả, NXB Trẻ - 2001.

- Sài Gòn Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Nguyễn Đức Hiệp, NXB Văn Hóa Văn Nghệ - 2016.

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2017

Tết Nguyên Đán.



Ảnh Internet. Mai và đào ngày Tết.

Ta quen gọi ngày Tết theo âm lịch là Tết Nguyên Đán (Tiết Nguyên Đán), chữ Tết là gọi chệch từ chữ Tiết. Gọi theo Hán - Việt là Nguyên Đán Tiết 元旦節, như Trung Thu Tiết 中秋節 (Tết Trung Thu), Thanh Minh Tiết 清明節 (Tết Thanh Minh).

Trong Nguyên Đán Tiết 元旦節 chữ Nguyên 元 có nghĩa là bắt đầu, thứ nhất, Đán 旦 có nghĩa là sớm, buổi sáng, cũng có nghĩa là ngày, như Nguyên Nhật 元日 là ngày bắt đầu, ngày thứ nhất. Tiết 節 có nghĩa là tiết trời, một khoảng thời gian, ngày lễ, tết. Nguyên Đán Tiết 元旦節 là thời gian của buổi sáng, là ngày đầu tiên của một năm mới, với người Á đông, đây là ngày quan trọng nhất trong năm.

Cho nên xưa nay, Tết Nguyên Đán là tết lớn nhất, tết quan trọng nhất trong năm. Người ta hay nói "Vạn sự khởi đầu nan", "Đầu có xuôi thì đuôi mới lọt"... Xưa trong xã hội nông nghiệp, dịp Tết Nguyên Đán là dịp nông nhàn, trong nhà lại rủng rỉnh lúa gạo, tiền bạc, sẵn tiết trời mát mẻ người xưa vui chơi ăn tết đến cả tháng trời, "Tháng giêng là tháng ăn chơi", hôi hè đình đám kéo dài cho bõ những ngày vất vả ruộng vườn.

Mới đây đọc trên mạng, đó đây người ta bàn về việc gộp Tết Nguyên Đán vào Tết Tây, có người khác muốn gộp Tết Nguyên Đán vào ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, số đông thì vẫn muôn giữ những ngày tết như cũ. Dĩ nhiên "chín người mười ý", ai cũng có những lý do cho những ý tưởng của mình, điều này hết sức bình thường. Nhưng đôi khi tôi thấy có những người để bảo vệ cho suy nghĩ của mình, đã dùng những lời lẽ, ngôn từ "đáng kinh ngạc" ném vào người khác, thật đáng sợ.

Riêng tôi vẫn thích những ngày Tết Nguyên Đán, nhưng đừng kéo dài "ăn chơi" quá, dăm ngày thôi, vừa phải, là lúc có người nơi xa về gặp lại người thân, anh em tụ họp nhau lại tưởng nhớ đến những người thân đã khuất, bạn bè gặp nhau nói dăm ba câu chuyện bên ly rượu hay chén trà (nhưng đừng "một, hai, ba dzô dzô tới bến không say không về"), có người khác tận dụng mấy ngày nghỉ quảy ba lô lên vai lên đường du lịch. Cũng là dịp chấm dứt một năm cũ để ta ngồi lại "tính sổ đời mình", bắt đầu một năm mới...

Nguyên Đán, ngày đầu của một năm, thân chúc Anh em, Bạn bè xa gấn một năm mới SỨC KHỎE - NHƯ Ý - AN KHANG - THỊNH VƯỢNG.

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2017

"Đường Mọi".


Ảnh Internet, người Stiêng ngày xưa, hiện nay họ còn sinh sống khá nhiều ở tỉnh Bình Phước.

Đó là tên một con đường ở Sài Gòn thời Pháp, "Đường Mọi" là gọi nôm na theo tiếng Việt, còn tên gọi thời đó theo tiếng Pháp là "Rue des Mois", một cái tên khá ấn tượng. Theo sách vở con đường này đã có từ rất lâu đời, từ khi người Pháp xây dựng thành phố Sài Gòn vào những năm 1860. Lịch sử của "Đường Mọi" được ghi nhận như sau:

- Thời Pháp thuộc đầu tiên được đặt là "Rue des Mois", sau đổi thành "Rue Richaud", đến năm 1955 chính quyền Sài Gòn đổi thành đường Phan Đình Phùng. Ngày 14-8-1975 chính phủ Cách mạng lâm thời đổi thành đường Nguyễn Đình Chiểu đến nay. Đường này một phần nằm trên quận 1, phần lớn còn lại thuộc quận 3.

Tên "Rue des Mois" (Đường Mọi), cũng như tên của nhiều con đường khác thời Pháp, như đường Catinat (Thống chế của nước Pháp), đường Paul Doumer (Toàn quyền Đông Dương)... và sở dĩ có tên Đường Mọi vì khu vực này có nhiều thổ dân cư ngụ.

Trong tiếng Mường thì từ "Mọi" có 2 nghĩa, nghĩa thứ nhất là "người Mường" (nói riêng), nghĩa thứ nhì là "người" (nói chung). Theo sách vở, trong đao quân của Nguyễn Tri Phương giữ đại đồn Kỳ Hòa (Chí Hòa) có nhiều người "Mọi" thổ dân được dùng để xung kích, họ la ó và khá dữ tợn để áp đảo tinh thần quân Pháp. Xa hơn chút nữa vào thời anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa, trong đội quân của họ cũng đã ghi nhận có cả một đạo quân người Mọi, và cũng có những người Mọi biết huấn luyện voi được thu dụng để huấn luyện, điều khiển những con voi trận.

Như vậy xem ra từ "Mọi" có nguồn gốc từ tiếng Mường dùng để chĩ "người Mường", hoặc nói chung là để chỉ "người", rồi được dùng để gọi những dân tộc ít người, chứ không có nghĩa xấu hay kỳ thị.